Cảm nghĩ về tác phẩm ‘Một người Hà Nội’ của Nguyễn Khải

Cảm nghĩ về tác phẩm ‘Một người Hà Nội’ của Nguyễn Khải

Một người Hà Nội là truyện ngắn giàu tính triết luận, được sáng tác trong bối cảnh đổi mới văn học sau 1986. Triết luận vốn là một nét trội trong phong cách văn xuôi Nguyễn Khải thuộc giai đoạn sáng tác từ cuối những năm bảy mươi (của thế kỉ XX) trở đi, gắn liền với việc soi xét đối tượng dưới các góc độ văn hoá, lịch sử và triết học.
Trước đó, sáng tác của Nguyễn Khải đầy ắp cảm hứng chính luận, chuyên đề cập các vấn đề thời sự, chính trị của đất nước và thường lấy tiêu chí chính trị, đạo đức cách mạng để bàn luận, đánh giá sự kiện, con người. Rõ ràng, sự chuyển đổi từ cảm hứng chính luận sang cảm hứng triết luận đánh dấu một bước phát triển đáng ghi nhận trong tư duy nghệ thuật của nhà văn. Hứng thú quan sát, thể hiện những vấn đề thế sự, đặc biệt là vấn đề khẳng định bản lĩnh cá nhân của con người giữa một hoàn cảnh sống mà cái “tôi” chưa được nhìn nhận công bằng, thoả đáng, tất cả đều liên quan tới việc chuyển đổi cảm hứng nói trên. Các sáng tác lúc này vẫn không thiếu tính thời sự, nhưng giá trị của chúng đã vượt ra khỏi cái khung thời sự nhất thời để gây ám ảnh lâu dài. Việc nhà văn có ý thức tô đậm kinh nghiệm, thể nghiệm của cá nhân mình trong việc trình bày mọi vấn đề đã làm cho những trang viết của ông thấm đượm tinh thần đối thoại dân chủ, thoát li dần kiểu áp đặt chân lí một chiều trước đây.

Với một sáng tác mang tính triết luận, việc xếp đặt các nhân vật được miêu tả trong đó vào các phạm trù tốt – xấu, chính diện – phản diện quen thuộc một thời đã trở nên bất cập. Sự đánh giá về nhân vật có thể rất đa chiều. Lời khen hay lời chê của tác giả (thể hiện qua nhân vật kể chuyện xưng “tôi”) lúc này cũng chỉ có giá trị tham khảo thuần tuý, không hề mang tính chất “chân lí”, không phải là kết luận tối hậu. Trong Một người Hà Nội “, “tôi” nhìn nhận bà Hiền là “một hạt bụi vàng”, đó là quyền của “tôi”. Người khác có thể có cách nhìn nhận khác, tất nhiên, không thể không tham khảo cách nhìn có tính chất gợi ý mà “tôi” đưa ra. Nếu không hiểu nguyên tắc đánh giá này, lại lấy cách xây dựng nhân vật trong truyện của Nguyễn Khải ở giai đoạn sáng tác trước làm hệ quy chiếu, độc giả rất dễ có những phán quyết vô lí về tác giả trên các vấn đề quan điểm, lập trường chính trị, hoặc ngược lại, ra sức tán dương nhân vật bà Hiền, gán cho bà những phẩm chất tốt đẹp (theo mong muốn hay tưởng tượng, suy diễn của chính độc giả) mà bản thân nhân vật “tôi” không nói tới trong câu chuyện của mình.

Nếu căn cứ vào những gì đã được thể hiện trong truyện ngắn, độc giả có thể đặt lại tên tác phẩm Một người Hà Nội thành Nghĩ về một người Hà Nội. Dĩ nhiên, đây là đặt cho mình, nhằm mục đích lĩnh hội đúng tinh thần tác phẩm, cảm nhận đúng ý nghĩa của “thành phần” suy nghĩ trong kết cấu truyện ngắn này. Quả là chuyện kể không có gì thật đặc biệt, nhưng suy nghĩ, đánh giá của nhân vật “tôi” thì lại chứa đựng nhiều điều thú vị. Đặc trưng truyện ngắn Nguyễn Khải vốn là thế : tỉ trọng những lời phân tích, bình luận bao giờ cũng lớn, nhiều khi lấn át cả sự miêu tả, trần thuật khách quan về đối tượng.
Viết Một người Hà Nội, điều cơ bản mà nhà văn hướng đến chưa hẳn là ca ngợi một con người, cho dù người đó đáng ca ngợi bao nhiêu đi chăng nữa. Cảm hứng chính của ông là khám phá bản sắc văn hoá Hà Nội – cái quyết định vận mệnh và vị thế của Hà Nội trong lịch sử, cũng là cái làm nền tảng cho bước phát triển mới của nó trong tương lai. Không phải ngẫu nhiên mà khi ngắm hình ảnh bà Hiền “lau đánh cái bát bày thuỷ tiên”, ông đã có một ghi chú tưởng như là bâng quơ : “nếu là một thiếu nữ thì phải hơn”[1], rồi cảm thán : “thấy Tết quá, Hà Nội quá, muốn ở thêm ít ngày ăn lại một cái Tết Hà Nội”. Cũng hoàn toàn hợp lô gích việc nhà văn đã kết lại truyện ngắn như thế này : “Một người như cô phải chết đi thật tiếc, lại một hạt bụi vàng của Hà Nội rơi xuống chìm sâu vào lớp đất cổ. Những hạt bụi vàng lấp lánh đâu đó ở mỗi góc phố Hà Nội hãy mượn gió mà bay lên cho đất kinh kì chói sáng những ánh vàng !”. Lô gích thì lô gích nhưng vẫn lạ. Ai đã từng quen với giọng văn tinh sắc, tỉnh táo, thậm chí là “lọc lõi” của Nguyễn Khải, hẳn phải ngỡ ngàng trước cái giọng “bốc” lên khá đột ngột mà nhà văn biểu lộ ở đây. Một chút giỡn đùa với chính văn mình hay niềm xúc động tận đáy tâm can cứ bật ra không nén được ? Trả lời quyết hẳn theo bề nào cũng khó, nhưng điều có thể khẳng định chắc chắn là : Nguyễn Khải thật sự yêu quý Hà Nội, có những suy nghĩ thâm trầm về “đất kinh kì” và tha thiết được thấy một Hà Nội hiện đại, đẹp, sang, xứng với bề dày văn hoá truyền thống của nó.
Hình tượng bà Hiền được xây dựng lên như để chứng minh có một tinh thần Hà Nội, một linh hồn Hà Nội thực sự đã và đang tồn tại, để lại dấu ấn đậm nét trong những người con của nó. Bà Hiền không phải là một “tấm gương” kiểu mẫu hiểu theo nghĩa thông thường để các tổ chức xã hội nêu lên cho mọi người học tập, theo cách người ta vẫn thường làm nhằm mục đích tuyên truyền, vận động. Bà chỉ là người dân bình thường, dù xuất thân là con nhà “tư sản”, dù đã có một thời “vang bóng” (mà thực ra, “tư sản” thì cũng có thể là người dân bình thường được chứ !). Tác giả (và người kể chuyện) hiểu vậy nên chọn cách giới thiệu, chuyện trò về bà thật dung dị. Bà là một người bà con xa, người dì họ của “tôi”, thế thôi ! Mọi việc bà làm đều tự nhiên, như cuộc sống hàng ngày, chẳng gây chấn động gì tới xung quanh cả. Ấy vậy, ai dám bảo chất Hà Nội ở bà không đậm đặc ? Vả lại, muốn khám phá bề sâu văn hoá của một vùng đất, tuyệt đối không được bỏ qua những điều tưởng là nhỏ nhặt. Nhiều khi chính chúng lại cung cấp cứ liệu thuyết minh về vấn đề có sức nặng hơn hẳn những chuyện to tát. Dõi theo mạch kể của nhân vật “tôi”, người đọc thấy quả không có gì đáng gọi là “sự kiện” việc bà Hiền lấy chồng, quản lí gia đình, sinh con, dạy con, cho con đi bộ đội, tiếp khách, bài trí nơi ở, duy trì nếp sinh hoạt riêng,…
Một câu bình phẩm của “tôi”, rằng, việc bà lấy ai không lấy, lại lấy một ông giáo cấp tiểu học hiền lành chăm chỉ làm chồng đã “khiến cả Hà Nội phải kinh ngạc”, phần nhiều chỉ là một cách nói ngoa ngôn khá đặc thù của văn chương. Nếu quả người ta có kinh ngạc, thì đó là sự kinh ngạc trước một chuyện không ngờ lại xảy ra bình thường (thậm chí là tầm thường) quá như thế. Tuy vậy, nếu bình tâm suy xét, ta lại thấy trong tất cả những cái bình thường kia lại chứa đựng một triết lí sống đáng vị nể, vừa thể hiện bản lĩnh cá nhân một con người, vừa bộc lộ kiểu ứng xử đặc trưng của đất kinh kì. Bà Hiền biết rõ mình là ai (câu tuyên bố “thẳng thừng” của bà đối với nhân vật “tôi” đã chứng thực điều đó : “Một đời tao chưa từng bị ai cám dỗ, kể cả chế độ”), và cũng tương tự thế, bà hiểu sâu xa mình là người Hà Nội. Sau năm 1954, gia đình bà chẳng di cư vào Nam vì “không thể rời xa Hà Nội”. Đây không đơn giản chỉ là một biểu hiện của tình yêu đối với nơi đã sinh ra và nuôi dưỡng mình, mà còn là một biểu hiện của niềm tin vào thế tồn tại bền vững của mảnh đất đã trải qua nhiều thăng trầm của lịch sử, có văn hoá riêng đã thấm vào máu thịt cư dân nơi này.
Bà Hiền có thể không nghĩ một cách rành rọt như vậy, nhưng tác giả và nhân vật “tôi” – một sự hoá thân của ông – thì ý thức về điều này quá sâu sắc. Nhân vật “tôi” cũng khó lòng quên lời bà Hiền răn lũ con của anh : “Chúng mày là người Hà Nội thì cách đi đứng, nói năng phải có chuẩn, không được sống tuỳ tiện, buông tuồng”. Hoá ra vậy, làm người Hà Nội vừa là một vinh dự, vừa là một trách nhiệm. Bà Hiền hẳn là luôn đau đáu về vấn đề này, chẳng thế mà dù đã ngoài bảy mươi, bà vẫn để lộ tâm sự đó của mình khi hỏi người cháu (“tôi”) vừa mới từ thành phố Hồ Chí Minh ra thăm : “Anh ra Hà Nội lần này thấy phố xá thế nào, dân tình thế nào ?” Ngỡ đó chỉ là một câu hỏi xã giao thông thường mà thực chất lại gửi gắm bao nỗi niềm, bao phấp phỏng và hi vọng về tương lai của Hà Nội.
Những điều vừa nói trên chứng minh sự gắn bó làm một, rất máu thịt, giữa bà Hiền và Hà Nội. Nhưng cốt lõi ứng xử của người Hà Nội được thể hiện qua bà Hiền là cái gì ? Khi kể về bà, nhân vật “tôi” rất hay nói đến chữ tính : “tính thế là đúng”, “Mọi sự mọi việc đều được các bà tính trước cả. Và luôn tính đúng…”, “đã tính là làm”, “Cô tôi tính toán việc nhà việc nước đại khái là như thế”, “cô muốn mở rộng sự tính toán…”. Dĩ nhiên, đã “tính đúng” thì người đó là người khôn (“cô khôn hơn các bà bạn của cô”), người “có đầu óc rất thực tế”, biết thích ứng. Với người “khôn”, mọi điều khó mấy xem ra cũng có thể thu xếp được một cách khá nhẹ nhàng : là “tư sản” mà khi ở với chính quyền mới, gia đình bà Hiền không bị hề hấn gì, bà lại có khả năng nuôi cả gia đình đủ ăn mà không phải dính dáng gì tới hai chữ “bóc lột”… Bà Hiền có thể “cười rất tươi” – một kiểu cười quá đỗi tự tin – khi ông cháu thóc mách : “Tại sao cô không phải học tập cải tạo, cô giấu cũng tài nhỉ ?” Nói ra toàn những chuyện như thế về bà Hiền, phải chăng tác giả muốn kết luận rằng cái “bản sắc” của người Hà Nội là tính và khôn ? Sự thực hoàn toàn không phải thế. Đằng sau mỗi câu chuyện kể về bà Hiền, tác giả luôn luôn cho ta thấy sự tồn tại của một bản lĩnh sống vững vàng, một khả năng tự ý thức rất cao, một lòng tự trọng không thể nghi ngờ.
Tự trọng ở đây gắn liền với việc không để mình rơi vào tình trạng nhục nhã, sống giữ được cốt cách và đặc biệt là không quên trách nhiệm với cộng đồng (một tinh thần trách nhiệm không cần tuyên bố ồn ào, bốc đồng, hời hợt). Những lời thổ lộ của bà Hiền xung quanh việc bằng lòng cho hai đứa con đi bộ đội thể hiện rõ điều này : “Tao đau đớn mà bằng lòng, vì tao không muốn nó sống bám vào sự hi sinh của bạn bè. Nó dám đi cũng là biết tự trọng”, “Tao không khuyến khích, cũng không ngăn cản, ngăn cản tức là bảo nó tìm đường sống để các bạn nó phải chết, cũng là một cách giết chết nó”, “Tao cũng muốn được sống bình đẳng với các bà mẹ khác, hoặc sống cả, hoặc chết cả, vui lẻ có hay hớm gì”… Không phải không có những ngộ nhận về tính cách người Hà Nội. Trong truyện, tác giả đã khéo tạo ra một tình huống để làm rõ vấn đề này. Trong khi nhân vật “tôi”, giữa một bữa tiệc, đã “nói hơi nhiều” những ý chê trách Hà Nội trong sự so sánh nó với những vùng miền khác, thì nhân vật Dũng, con bà Hiền, mới từ chiến trường miền Nam trở về, đã kể cho mọi người nghe về phản ứng tâm lí của một người mẹ Hà Nội có con hi sinh : “Bà níu chặt lấy một cánh tay của cháu, người bà run bần bật nhưng không khóc, và bà nói run rẩy : “Nín đi con, nín đi Dũng ! Cô đã biết cả. Cô biết từ mấy tháng nay rồi”. Đúng là một sự đối trọng. Câu chuyện của Dũng tự nó nói lên bao điều !
Ta đã phân tích khả năng tính của bà Hiền, một người Hà Nội. Tính không phải bao giờ cũng gắn với thói thực dụng. Nhiều khi, nó là đòi hỏi bắt buộc của một cách tồn tại giữa thời cuộc có nhiều thay đổi, xáo trộn khó lường. Bà Hiền quá nhạy cảm về vấn đề này. Bà có chính kiến, chủ kiến riêng về nhiều chuyện “vĩ mô” của nhà nước, chế độ. Khi đứa cháu nói : “Nước được độc lập vui quá cô nhỉ ?”, bà đã trả lời : “Vui hơi nhiều, nói cũng hơi nhiều, phải nghĩ đến làm ăn chứ ?”. Theo bà “Chính phủ can thiệp vào nhiều việc của dân quá, nào phải tập thể dục mỗi sáng, phải sinh hoạt văn nghệ mỗi tối, vợ chồng phải sống ra sao, trai gái phải yêu nhau như thế nào, thậm chí cả tiền công sá cho kẻ ăn người ở…”. Bà cũng nhận ra có cái gì đó không phù hợp trong cách nghĩ “không thích cá nhân làm giàu” : “Chú tuy chưa già nhưng đành để ngồi chơi, các em sẽ đi làm cán bộ, tao sẽ phải nuôi một lũ ăn bám, dù họ có đủ tài để không phải sống ăn bám”. Đặc biệt, bà có một quan điểm hết sức khác thường : “Xã hội lúc nào cũng phải có một giai tầng thượng lưu của nó để làm chuẩn cho mọi giá trị…”. Chưa hết, bà còn phát biểu về cái huyền vi của sự sống mà càng ngày ta càng phải thừa nhận : “Thiên địa tuần hoàn, cái vào ra của tạo vật không thể lường trước được”.
Như vậy, trong cái tính của bà Hiền có chứa đựng một “tầm nhìn xa” đáng để cho nhân vật “tôi” phải thốt lên khâm phục : “Bà vẫn giỏi quá, bà khiêm tốn và rộng lượng quá. Một người như cô phải chết đi thật tiếc…”. Chính tầm nhìn xa có ở bà Hiền, rộng ra là có ở nền văn hoá của đất kinh kì đã tạo nên cái mà trên kia ta đã gọi là thế tồn tại uyển chuyển và ngoan cường của Hà Nội, vượt lên trên mọi ba động của đời sống chính trị. Chi tiết bà Hiền kể cho nhân vật “tôi” nghe về sự hồi sinh sau cơn bão của cây si cổ thụ ở đền Ngọc Sơn mang ngụ ý triết lí sâu sắc. Các nhân vật trong truyện dường như chỉ “luận” về sự kiện này xoay quanh sự tiếp nối của nhiều thế hệ người Hà Nội. Kì thực, ý nghĩa của nó trong cấu trúc chỉnh thể của tác phẩm còn lớn hơn thế. Cũng cần lưu ý : nhiều quan điểm được nói ra từ miệng bà Hiền cũng là cái mà nhân vật “tôi” và tác giả tỏ ra tâm đắc. Lời trần thuật khách quan về đối tượng đã quyện chặt với lời phân tích mang theo cách đánh giá riêng của người viết. Đây quả là một nét đặc sắc của văn Nguyễn Khải – một nhà văn vẫn được nhiều người viết khác cùng thế hệ bái phục về “năng khiếu” có thể gài lồng được vào sáng tác của mình những tư tưởng riêng đầy táo bạo, không dễ phát ngôn, về đời sống.
Nói về “dân” Hà Nội, người ở nhiều vùng miền khác vẫn thường thừa nhận thanh lịch là đặc điểm nổi bật. Vậy, ở một người khôn ngoan, giỏi tính toán như bà Hiền, nét thanh lịch ấy có tồn tại không và nếu có thì nó được biểu hiện như thế nào ? Thực ra, không hề có sự đối chọi nào giữa các phẩm chất ấy trong con người bà Hiền cả. Đừng lầm về kiểu xưng hô bỗ bã của bà đối với con cháu (vốn nó biểu hiện rõ tư cách của con người quyết đoán, ý thức mình là “nội tướng” trong gia đình), mà hãy nhìn vào thực chất của vấn đề, biểu hiện qua thái độ chu tất trong nết ăn, nết mặc, trong cử chỉ lau đánh cái bát đựng hoa thuỷ tiên, trong việc duy trì một cách “bướng bỉnh” cái nền nếp sinh hoạt xa lông một thời vẫn thường bị định kiến là “tư sản”. Không, trong ngày thường, một người như bà Hiền đã hoà nhập rất tốt vào cuộc sống chung, cũng “áo bông ngắn, quần thâm, đi dép hoặc đi guốc, vuông khăn len tơi tớp buộc quanh cổ hay bịt đầu”.
Nhưng bà, cũng như các bạn của mình, không vì vậy mà không được quyền sống cho mình. Họ, lúc cần, đã biết rũ bỏ “đồng phục” để hoá thân thành những con người khác, đáng để cho những kẻ yêu cái đẹp ngắm nhìn : “bà chủ xuất hiện trước như diễn viên trên sân khấu, rồi một loạt bảy tám bà tóc đã bạc hoặc nửa xanh nửa bạc, áo nhung, áo dạ, đeo ngọc đeo dây đi lại uyển chuyển”. Tất cả những điều đó cũng là biểu hiện cụ thể của bản lĩnh sống – một vấn đề hết sức nghiêm túc cần được nhìn nhận thấu đáo trong hoàn cảnh sống của đất nước, của thời đại bây giờ.
Nhìn chung, bà Hiền đúng là một người Hà Nội, dù bà không thuộc “típ” điển hình quen thuộc mà văn học cách mạng một thời ưa xây dựng trong cảm hứng ngợi ca. Dĩ nhiên, bà cũng đã dành được sự ngợi ca, quý trọng rất mực của nhân vật “tôi”, của tác giả, nhưng đây là sự ngợi ca, quý trọng xuất phát từ một tiêu chí đánh giá khác với trước. Cái lõi của tiêu chí đó chính là sự khẳng định bản lĩnh cá nhân của con người trong đời sống – điều sẽ khiến cho con người trong khi biết thích ứng với thời đại thì vẫn đóng góp được nhiều cho việc cải biến, cải tạo môi trường tồn tại của mình theo hướng tích cực.
Viết về một mẫu người như bà Hiền, văn Nguyễn Khải trở nên khoái hoạt hơn bao giờ hết. Hoàn toàn có thể nói bà Hiền chính là nhân vật lí tưởng (không nhất thiết phải là nhân vật anh hùng, nhân vật phi thường) của sáng tác Nguyễn Khải giai đoạn từ khoảng 1978 trở đi (theo sự tự phân chia của chính nhà văn). Qua bà cũng như qua các nhân vật khác thuộc loại này, nhà văn đã thực sự có đóng góp cho việc dân chủ hoá hoạt động sáng tác văn học nước nhà. Các thước đo về con người, cuộc sống trở nên đa dạng hơn, và chính điều đó đã kích thích tinh thần đối thoại ở độc giả. Thì đó, nhân vật “tôi” trong tác phẩm đâu có được xây dựng như một con người nắm giữ chân lí, có quyền đưa ra lời phán quyết sau cùng về mọi sự. Anh ta đã từng hiện lên như một kẻ khôn ranh, ứng xử thiếu đàng hoàng với người cô “tư sản” (không ghi tên bà Hiền trong lí lịch cán bộ), một kẻ tự thị vô lối khi đưa ra những lời nhận xét hấp tấp về Hà Nội trong một bữa tiệc. Anh ta cũng có thể sai, cũng phải chịu lời phản biện từ chính thực tế cuộc sống. Biết nghĩ về sự “nín lặng” (không đồng nghĩa với sự chấp thuận) của người khác thì cũng đồng nghĩa với việc tự mình biết sẵn sàng nín lặng khi những “ý thức” khác cất lời. Sự hấp dẫn của văn của Nguyễn Khải ở giai đoạn sáng tác thứ hai chính được đưa tới từ đặc điểm giàu tính đối thoại dân chủ này.
Dù không có ý áp đặt cho ai về cách đánh giá một con người, cụ thể ở đây là bà Hiền, Nguyễn Khải, thông qua nhân vật “tôi”, vẫn có khả năng tạo được sự tán đồng của người đọc khi ông đưa ra nhận xét : bà Hiền chính là một người Hà Nội, tuy chỉ là hạt bụi nhưng đó lại là hạt bụi vàng của đất kinh kì.

Bình giảng bài thơ Tống biệt hành

Bình giảng bài thơ Tống biệt hành

Đời người và đời thơ của Thâm Tâm đều ngắn ngủi. Ngày 18.8.1950, nhà thơ mất trên đường hành quân tham gia chiến dịch Cao Bắc Lạng. Năm ấy, ông mới ba mươi tuổi. Còn nếu tính từ năm 1938, khi Thâm Tâm cùng gia đình lên Hà Nội kiếm sống bằng nghề vẽ tranh, viết văn, làm thơ thì “tuổi nghề” của ông vỏn vẹn chỉ 12 năm.
Đã thế,Thâm Tâm làm thơ ít, số bài thơ bây giờ tập hợp được chỉ độ vài ba chục. Nhưng thơ Thâm Tâm khiến người đời nhớ mãi. Đây là không kể chuyện Thâm Tâm với các bài thơ về hoa ti gôn, màu hoa như tím vỡ, mọc vô vàn trên các bờ giậu nhưng khi có thơ, loài hoa ấy ai cũng phải ngắm nhìn một cách đặc biệt.

Tống biệt hành là bài thơ đặc sắc nhất của Thâm Tâm , cũng là bài thơ Mới có nhiều ý kiến, bình giá khác nhau nhất và cơ hồ chưa phải đã kết thúc.
Bài thơ được sáng tác vào năm 1940, không biết đích xác là ngày nào. Năm sau, được đưa vào tuyển thơ Thi nhân Việt Nam, với lời bình của Hoài Thanh:
Thơ thất ngôn của bây giờ thực có khác thơ thất ngôn cổ phong. Nhưng trong bài dưới đây lại thấy sống lại cái không khí riêng của nhiều bài thơ cổ, điệu thơ gấp, lời thơ gắt. Câu thơ rắn rỏi, gân guốc. Không mềm mại, uyển chuyển như phần nhiều thơ bây giờ. Nhưng vẫn đượm chút bâng khuâng khó hiểu của thời đại.
Ý kiến của Hoài Thanh thật xác đáng:Tống biệt hành vừa giống thơ cổ vừa không phải thơ cổ đượm chút bâng khuâng khó hiểu của thời đại. Đó cũng là lí do khiến từ bấy đến nay có biết bao ý kiến khác nhau về Tống biệt hành mà khổ nỗi lại là ý kiến của những người uyên thâm ,hoặc có quan hệ gần gũi với tác giả.
Tên bài thơ:
Tên bài thơ không có gì là khó hiểu, rõ ràng đằng khác: tiễn đưa nhau khi li biệt. Chỗ dễ gây khó hiểu duy nhất ở đây là chữ hành. Hành vừa có nghĩa là đi, dời đi, lại có nghĩa là khúc hát, bài ca. Bởi vậy, khi dịch nghĩa tên một số bài thơ Đường, người ta thường giữ nguyên chữ ấy như Trường Can hành (Thôi Hiệu), Lũng Tây hành (Trần Đào)… mặc dù Trường Can, Lũng Tây đều là địa danh. Xa hơn nữa , người ta thấy , hành là thể thơ vốn thịnh hành ở Trung Quốc thời Hán Nguỵ , Lục Triều, có cội nguồn từ trong Nhạc phủ , tức những bài thơ có thể phổ nhạc , nhưng chỉ để dùng trong cung cấm. Do đó, Trường Can hành là một khúc Nhạc phủ , song cũng là tên một bài thơ của Đỗ Phủ . Nội dung hai bài hoàn toàn khác nhau. Khi thoát khỏi cung cấm, thể thơ hành trở nên phóng túng về hình thức để thể hiện rõ tình ý của người viết . Các bài thơ hành đời Đường viết về nhiều đề tài : tình yêu nam nữ , về chiến tranh , loạn lạc , chia li… Thời Đương , các bài thơ hành thường viết theo thể thất ngôn (Tì bà hành – Bạch Cư Dị, Trương Can hành – Lí Bạch), hoặc ngũ ngôn (Trường Can hành –Thôi Hiệu), nhưng cũng có trường hợp dài , ngắn tuỳ ý (Binh xa hành – Đỗ Phủ).
Sau đời Đường, trong văn học các nước phương Đông, thơ hành không thiếu. Ở Việt Nam , có bài khá nổi tiếng như Sở kiến hành của Nguyễn Du. Tuy nhiên ,nhìn chung , số lượng vẫn khá ít ối với những bài thơ khác. Bẵng đi thời gian khá dài , ở nước ta những năm cuối của phong trào Thơ mới bỗng xuất hiện nhiều bài hành của các nhà thơ Thâm Tâm (Tống biệt hành, Can trường hành, Vọng nhân hành). Nhiều bài thơ của các ông dù không có chữ hành ở tựa đề nhưng vẫn cùng chung một giọng điệu. Cả ba vốn là bạn bè thân thiết nên có người gọi đây là trường phái thơ hành, bên cạnh các trường phái thơ Loạn ,thơ Say,thơ Đạo …thời ấy.
Sau năm 1954, ở miền Nam ,cũng có một vài nhà thơ trẻ làm thơ hành như Hoàng Lộc, Duynh Trầm Ca… Thơ của họ, tuy nội dung có khác, nhưng gần gũi với các bậc “tiền bối” ở cái giọng kiêu bạc, khinh đời:
– Chẳng lẽ giận đời đi uống rượu
Mà say chưa chắc đã quên đời
Và chưa chắc ấm sầu xa xứ
Đỏ mặt hoàng hôn cũng hổ người
(Hoàng Lộc)
Rượu cuối năm gió lọt lòng ly
Vọng tiếng hú ma Hời buồn quê cũ
Đêm viễn xứ vang vang pháo nổ
Giao thừa giao thừa hề ta lăn quay
Rượu hết làm sao chết giữa cơn say…
(Đuynh Trầm Ca)
Nói mông lung như vậy đẻ thấy không thể đơn giản khẳng định Tống biệt hành của Thâm Tâm là bài thơ theo thể hành thời trước ,bởi nào ai chỉ ra thi pháp của thể thơ ấy như kiểu thơ luật Đường hay văn biền ngẫu …Có giống chãng chỉ là nhà thơ mượn chữ hành thường tỏ ra khá phóng túng ,như muốn nói cho bằng hết ý mình ,mà đó thường là những điều khó nói,khó được chấp nhận .Ví như bài Lũng Tây hành của Trần Đào là một mặt trái của chuyện đời:
Quên mình, thề giết Hung Nô
Năm ngoái tướng sĩ bụi Hồ vùi thân.
Bên sông Vô Định xương tàn,
Vẫn người trong giấc mộng xuân khuê phòng.
(Trần Trọng San dịch)
Hay Nguyễn Bính, nhà thơ đồng quê nhưng với Hành phương Nam lại tỏ ra khá ngang tàng, kiêu bạc:
Rãy ruồng châu ngọc, thù son phấn
Mắt đỏ lên rồi cứ chết ngay
Hỡi ơi nhiếp chính mà băm mặt
Giữa chợ ai khóc mà nhân thay
Rõ ràng, thơ hành của Thâm Tâm, Nguyễn Bính, Trần Huyền Trân là thơ hành của chính các ông, những nhà thơ Mới bởi vậy mới đượm chút bâng khuâng khó hiểu của thời đại.
Chuyện Tống Biệt
Tống biệt là chuyện muôn thuở , đề tài quen thuộc của văn chương. Nhưng với Thâm Tâm ,chuyện tống biệt chừng như khác . Đấy không phải là chuyện Lưu Trần và Nguyễn Triệu rời Thiên Thai có Suối tiễn oanh đưa tiễn ngậm ngùi ( Tản Đà -Tống biệt ).Cũng không phải là sự ra đi vì Non sông đã chết thêm nhục ,Hiền thánh còn đâu học cũng hoài ( Phan Bội Châu – Lưu biệt xuất dương ) ,hay ra đi mà lòng hẹn quyết : Đấng trượng phu tuỳ ngộ nhi nan…Non sông ấy chờ ta thêu đặc dệt.Kìa tụ tán chẳng qua là tiêu biểu ( Huỳnh Thúc Kháng-Bài ca lưu biệt ) .Người ra đi ở tống biệt hành có phần gần gũi với khách chinh phu trong Tiếng gọi bên sông của Thế Lữ:
Ta đi theo đuổi bước tương lai,
Đẻ lại bên sông kẻ ngậm ngùi
Chí nặng bốn phương trời nước rộng,
Từ nay thêm bận nỗi thương ai.
Những chỉ gần mà không giống. Cách nhau độ năm, mười năm mà đã thế, làm sao bảo li khách có “họ hàng” với chàng Kinh Kha ở nước Yên cả ngàn năm trước?
Ra đi là một mô típ không chỉ trong văn chương mà trước hết là trong đời sống của không ít thanh niên Việt Nam thời kỳ 1930-1945. Đi đã trở thành nhu cầu .Vì lí do gì ư? Nhiều lắm ! Ngay ở một nhà thơ của Hoa niên vẫn không hiếm những câu:
Những ngày nghỉ học tôi hay tới
Đón chuyến tàu đi đến những ga
Tôi đứng bơ vơ xem tiễn biệt,
Lòng buồn đau xót nỗi chia xa.
( Tế Hanh -Những ngày nghỉ học )
Vì sao có chuyện kỳ cục ấy? Người trong cuộc giải thích:
Kẻ về không nói bước vương vương…
Thương nhớ lan xa mấy dặm trương.
Lẽo đẽo tôi về theo bước họ
Tâm hồn ngơ ngẩn nhó muôn phương.
Những năm 40 của thế kỷ trước , đi càng trở nên bức bách khi mà bao câu hỏi cứ xoáy mãi trong lòng họ:
Ôi ! Ta đã làm chi đời ta?
Ai đã làm chi lòng ta ?
……………………………………
Ta đã làm chi đời ta xưa?
Ta đã dùng chi đời ta chưa?
Thiên thu? ngờ sự nghiệp!
Chiều mưa rồi đêm mưa;
Gió lùa gian gác xép,
Đời tàn trong ngõ hẹp.
( Vũ Hoàng Chương – Đời tàn trong ngõ hẹp )
Với các nhà thơ trường phái thơ hành, nỗi đời còn bức bách hơn. Trần Huyền Trân gào thét:
Thế rồi thí bỏ rủi may
Đưa giam cõi bụi, đứa đày rừng sâu
Vai cày chẳng kẻo làm trâu
Giong xe chẳng kẻo tóc râu làm bờm
Nẻo về chật chội áo cơm
Dặm đi lại đông từng cơm lá rừng…
(Độc hành ca )
Đi không đòng nghĩa với sung sướng. Nhưng là sự giải thoát với khỏi thực tại: Kinh thành mây đỏ như son, Cái lồng chật chội giam con chim trời (Trần Huyền Trân-Vô đề). Người đi có phần bất chấp:
Mơ gì Áp tiết thiên văn tự,
Giày cỏ gươm cùn ta đi đây.
(Nguyễn Bính –Hành phương Nam )
Sau này, khi nhiều người thắc mắc về người đi trong bài thơ của mình (cũng là một cuộc ra đi từ trước năm 1945), Nguyễn Đình Thi giải thích: Người ra đi này cũng không phải là tác giả hoặc một người cụ thể -người ấy ra đi ,có thể đi làm cách mạng, hoặc vì một lẽ khác , vì một bi kịch riêng… Dù sao đấy cũng là một người bỏ nơi ở, bỏ nơi mình đang quen sống để ra đi, người ấy có nhiều nông nổi, nhiều tâm trạng… (Đỗ Tiến Bảng -Về bài thơ Đất Nước ,Văn nghệ ,số 53/1994).
Trường hợp Thâm Tâm ,trong số những bài thơ ít ỏi trước năm 1945, chuyện ra đi không chỉ nói ở Tống biệt hành . Ở Tráng ca (1994), có Bọn ta một lớp lìa nhà. Ở Can trường hành (1944), có chàng là bậc trẻ không biết sợ… Vợ con thí tất cho thiên hạ… Ta lênh đênh hoài sâu biết mấy! Còn trước đó, vào năm 1940, người ra đi với bao quyết tâm:
Trời hỡi ! Mai này tôi phải đi
Thơ này rồi chẳng đọc ai nghe
Đời nhiều nhưng có dăm người bạn
Thì viễn li không có đường về
……………………………………………
Ngày mai ngược gió tôi đi ngược
Ai có quan tâm gọi trở về
Trời hỡi ,ngày mai ngày mốt thôi
Ngày mai cay đắng nhất li bôi…
( Ngược gió )
Đến năm 1944, chuyện ra đi lại đặt ra ở một bài thơ mang tên Lưu biệt hẳn hoi mà người đi lại rất cụ thể:
Tiệc này đêm cuối mai chia li
Anh cố lưu tôi có ích gì
………………………………….
Đất trời rộng quá tôi không chịu
Cắm chặt sông đây một cánh bè
……………………………………………
Sáng mai qua bến Ninh Cơ lạnh
Sẽ thấy se lòng trận gió tê
Giọng đàn lưu luyến làm chi nữa
Tôi quyết đi rồi tôi phải đi .
Cách đây không lâu, nhiều người đã tìm các tư liệu khá cụ thể về cuộc chia li và li khách ở bài thơ Tống biệt hành. Rất tiếc, các tư liệu ấy, có độ tin cậy cao (một người bạn thân của Thâm Tâm, một người là nhà văn cùng thời), nhưng lại trái ngược nhau. Tôi đồ rằng, sẽ còn những phát hiện như thế nữa. Song tất cả các phát hiện ấy càng khiến việc tiếp cận bài thơ thêm khó khăn. Giả dụ rằng, không có cuộc chia tay với những con người cụ thể kia thì thế nào vẫn có Tống biệt hành, bởi muốn đi, quyết ra đi thật sự không ai khác là chính nhà thơ Thâm Tâm!
Sao có tiếng sóng ở trong lòng?
Chuyện ra đi là thế ,nhưng người ta bàn luận nhiều về Tống biệt hành có lẽ vì đây là bài thơ hay nhất của Thâm Tâm .
Bài thơ mở đầu theo lối trực tiếp, như một thông báo, không nhiều lời:
Đưa người, ta không đưa qua sông.
Song, đây lại là câu mở đầu,khiến người ta liên tưởng rất xa. Đây là chuyện Kinh Kha ,người nước Tề , thời chiến quốc . Chàng vốn là kiếm khách nổi tiếng. Khi Tần sắp đem quân uy hiếp nước Yên , thái tử Đan nhờ Kinh Kha có làm bài dịch thuỷ (Bài ca sông Dịch) ,tỏ rõ quyết tâm của mình:
Phong tiêu tiêu hề Dịch thuỷ hàn,
Tráng sĩ nhất khứ hề bất phục hoàn.
(Gió vi vu ,sông Dịch lạnh ,
Tráng sĩ một đi không trở về).
Việc hành thích Tần vương của Kinh Kha không thành .Chàng bị đam chết giữa cung điện Tần.Nhưng câu chuyện về Khinh Kha thíống mãi trong cuộc đời và văn chương. Đời Đường, Lạc Tần Vương có bài thơ Dịch thuỷ tống biệt nhắc chuyện Kinh Kha với bao cảm khái:
Tích thời nhân dĩ một,
Kim nhật thuỷ do hàn.
(Người xưa đã khuất rồi.
Nước sông còn lạnh buốt).
Tống biệt hành gợi nhớ chuyện Kinh Kha ,song lưu ý mọi người đây không phải là chuyện xưa : Đưa người ,ta không đưa qua sông .Cuộc đưa tiễn không biết diễn ra tại đâu ,nhưng buồn hiu hắt ,chất đầy tâm trạng :
Sao có tiếng sóng ở trong lòng?
Bóng chiều không thắm ,không vàng vọt,
Sao đầy hoàng hôn trong mắt trong?
Dường như ngoại cảnh không liên quan gì tới tâm trạng :không có bờ sông dậy sóng nhưng trong lòng lại nổi phong ba ;buổi chiều bình yên nhưng trong mắt đẫm ánh tà dương !Cách diễn tả thật lạ lùng.Thông thường ,người ta hay lấy cảnh vật để tả nỗi lòng ,theo kiểu Người buồn cảnh có vui đâu bao giờ .Nhà thơ Mới Thâm Tâm thừa biết điều đó, nhưng đã làm theo chiều ngược lại.Trong bức tranh ngược sáng ây , tâm trạng nổi bật hẳn lên ,nỗi buồn ,sự tê tái mang vóc dáng ,hình thù hẳn hoi.
Người ta hay bàn cãi ,nỗi buồn của ai đây ?Theo lô gíc hình thức, chắc chắn đây là nỗi buồn của người đưa tiễn .Người ấy đang nói , đang kể chuyện rành rành ra đó .Bởi vậy ,mới có những câu thơ tiếp theo :
Đưa người ,ta chỉ đưa người ấy,
Một gã gia đình, một dửng dưng…
Chẳng lẽ ở trên nói người rađi rất u buồn ,liền sau đó lại khẳng định: không ,người ấy rất dửng dưng ?Từ đầu đến câu thơ này,tất cả đều diễn tả tâm trạng của người đưa tiễn.Nhưng nhân vật trung tâm lại là người ra đi: vì người ấy mà tôi buồn ;vì người ấy mà tôi đau;chỉ có một người ấy thôi!Khổ nỗi ,người ấy lại nhất quyết ra đi,không gì có thể cưỡng lại đuợc:
– Li khách ! Li khách ! Con đường nhỏ,
Chí nhớn chưa về bàn tay không,
Thì không bao giờ nói trở lại!
Ba năm ,mẹ già cũng đừng mong.
Không ai biết lí do nào khiến người phải ra đi .Song , chắc đấy không là lí do đơn giản ,bình thường.Việc gì người ta phải đánh đuổi, kể cả nỗi lòng chờ mong của người mẹ thiêng liêng để ra đi , nếu đó không là lí do thật cao cả? Câu thơ vẫn theo điệu kể ,nhưng chủ thể lời nói thì chuyển dịch dần từ người đưa tiễn sang người ra đi ,từng lời ,từng lời ,một,thật rắn rỏi , việc ra đi khó lòng thay đổi ý định ở người ra đi :
Ta biết người buồn chiều hôm trước :
Bây giờ mùa hạ sen nở nốt,
Một chị ,hai chị , cùng như sen,
Khuyên nốt em trai dòng lệ sót.
Ta biết người buồn sáng hôm nay:
Giời chưa mùa thu ,tươi lắm thay,
Em nhỏ ngây thơ , đôi mắt biếc,
Gói tròn thương tiếc chiếc khăn tay…
Chỗ dựa ấy là hoàn cảnh và tâm trạng của li kahchs .Về hoàn cảnh, người ấy có mẹ già và “một chị ,hai chị, cùng như sen” mùa hạ. Đông đấy ,nhưng vẫn lẻ loi , đơn chiếc .Người ấy có người “em nhỏ thơ ngây, đôi mắt biếc” đang rất nặng tình với mình ( ). Hoàn cảnh và tình cảm sâu nặng như thế ,ra đi lòng sao không trĩu nặng. Nhưng tình không lớn bằng nghĩa. Năm 1944, trong bài thơ Lưu biệt, Thâm Tâm thêm một lần nói rõ điều đó:
Đời người say tỉnh được bao dịp
Xin cạn chén rượu để tôi đi
Đau tình không xót bằng đau nghĩa
Tay gầy cũng ném chén vô tri
Mắt xanh cùng gửi ngoài mưa gió
Lòng không cùng sống với cầm thi…
Người ấy vẫn cứ đi .Chỗ dựa đẻ níu kéo hoá ra không cầm giữ được
Vì thế ,người trong cuộc ,dù biết rất rõ ,hiểu rất kỹ nhưng lòng vẫn bàng hoàng, ngơ ngác:
Người đi? Ừ nhỉ,người đi thực!
Mẹ già coi như chiếc lá bay,
Chị thà coi như là hạt bụi,
Em thà coi như hơi rượu say.
Khi bàng hoàng, ngơ ngác trước một cuộc chia li thì người ra đi mãi mãi in dấu trong tâm hồn người ở lại và cuộc chia li vẫn như đang diễn ra. Bài thơ Tống biệt hành của Thâm Tâm khiến người đời nhớ mãi vì lẽ đó.

Cảm nhận của em về khổ đầu trong bài thơ Nói Với con của Y Phương

Cảm nhận của em về khổ đầu trong bài thơ Nói Với con của Y Phương

Bài thơ ”Nói với con”của Y Phương bằng những cách nói ,cách nghĩ,những hình ảnh mộc mạc,cụ thể của người dân tộc Tày,tác giả cho người đọc hiểu được sự nuôi dưỡng,che chở của cha mẹ đối với con và mong con sống xứng đáng với quê hương.Đứa con sinh ra suốt một thời ấu thơ của nó.Bước đi chập chưỡng đầu tiên của một con người thật trang trọng và cảm động.Vì nó có thể yên tâm ,tin cậy trong vòng tay của cha,của mẹ..Con lớn lên từng ngày trong tình thương yêu của cha và mẹ.Bằng những hình ảnh thật cụ thể,Y Phương đã tạo được không khí gia đình đầm ấm,quấn quýt.Đứa trẻ sinh ra trong gia đình hạnh phúc và lớn lên bằng sự đùm bọc,dìu dắt:”Chân trái bước tới cha-Chân phải bước tới mẹ”.Tấm lòng của mẹ,của cha là cái đích để con hướng tới.Sự lớn lên của đứa trẻ rất đỗi hồn nhiên.Hình ảnh cụ thể mà giàu chất thơ: ”Một bước chạm tiếng nói-Hai bước tới tiếng cười”.Hai thao tác tư duy không cùng hệ thống,vừa ngọ nghĩnh vừa sáng tạo biết bao!Không biết đó là sáng tạo của nhà thơ hay của dân tộc Tày ở Cao Bằng,một cách nói mộc mạc vốn dĩ đã có hồn thơ.Câu thơ có được cái ấm áp,rối rít,ngọt ngào,một thứ âm vang của những người làm mẹ,làm cha ai mà không bồi hồi,xao xuyến.Tuy vậy,dù tấm lòng của cha mẹ có độ bao dung sâu lớn đến đâu,đứa con rất cần nhưng chưa đủ.Ở đây có bầu sữa tinh thần thứ hai là quê hương.Như vậy,khổ thơ đầu của bài thơ là bức tranh gia đình đầm ấm,hạnh phúc trong sự chăm chút đứa con,đồng thời người cha nói với con lời đầu tiên,nhắc nhở con về tình cảm gia đình rột thịt,về cội nguồn của mỗi người


Hãy tưởng tượng rằng mình được gặp người lính lái xe trong Bài thơ về tiểu đội xe không kính của Phạm Tiến Duật

Hãy tưởng tượng rằng mình được gặp người lính lái xe trong Bài thơ về tiểu đội xe không kính của Phạm Tiến Duật

Bài 1:
Tôi vừa đưa chiếc xe đạp vào khoảng sân hẹp thì đã nghe vọng ra tiếng cười giòn giã của bố tôi và một vị khách. Đó chắc chắn là một vị khách quý bởi vì ít khi có sự ồn ã, sôi động như thế ở người cha hiền hậu nhưng lúc nào cũng lặng lẽ của tôi.
Tôi bước vội vào nhà. Bố tôi cùng người khách hướng ánh nhìn rạng rỡ, trìu mến đón tôi:
_ Con gái, đây là bác Trung Trực, bạn học hồi trung học với bố, lại cùng bố nhập ngũ. Bác là chiến sĩ lái xe Trường Sơn năm xưa đấy con ạ!
Bác Trực trạc tuổi bố tôi. Khuôn mặt bác cương nghị nhưng lại rất đôn hậu. Đôi mắt tuy đã hằn nhiều vết chân chim nhưng vẫn ánh lên những tia vui vẻ và trìu mến. Tôi có đang nằm mơ không nhỉ? Tôi vừa học xong “Bài thơ về tiểu đội xe không kính” của nhà thơ Phạm Tiến Duật. Những lời thơ, những lời cô giảng và hình ảnh người chiến sĩ lái xe dũng cảm, kiên cường cứ đọng mãi trong tâm trí tôi. Giờ đây, tôi đang được đứng trước một người chiến sĩ lái xe Trường Sơn đích thực. Thật là một may mắn không ngờ. Tôi cuống quýt:
_ Bố ơi! Bác ơi! Con có thể được ngồi với bố và bác một lát để biết thêm về những ngày tháng chiến đấu năm xưa được không ạ?
Bác cười và đáp:
_ Sao lại không? Đó là khoảng thời gian đẹp nhất của bố cháu và bác.
_ Thưa bác, bác chính là người chiến sĩ lái xe Trường Sơn, người lính mà cháu đã được học trong “Bài thơ về tiểu đội xe không kính” của nhà thơ Phạm Tiến Duật, phải không bác?
_ Ồ, bài thơ ấy nổi tiếng lắm cháu à. Ngày đó, có lẽ lính lái xe Trường Sơn ít ai là không biết bài thơ ấy. Nó nói hộ phần nào khát vọng chiến đấu, những gian khổ, lòng dũng cảm và sự lạc quan của những người lính như bác.
_ Chính bác cũng đã từng lái những chiếc xe không kính ấy phải không ạ?
_ Không phải “đã từng” đâu cháu ạ. Mà là bác luôn lái những chiếc xe bị xước, bị va đập, bị bom đạn làm cho rơi vỡ, méo mó những bộ phận bên ngoài như thế. Chiến tranh mà! Để bác kể rõ hơn cho cháu hiểu nhé. Ngày đó, bác lái xe tải, cùng đồng đội chuyên chở lương thực, thuốc men, khí tài,… vào chiến trường miền Đông Nam Bộ. Có những chuyến đi kéo dài hàng tháng trời, gian khổ lắm cháu ạ. Nhất là những đoạn đường xuyên qua dãy Trường Sơn, giặc bắn phá rất dữ dội. Chúng muốn san phẳng tất cả, cắt đứt con đường huyết mạch nối liền Bắc Nam ấy. Tiểu đội xe của bác ban đầu được trang bị toàn xe mới để phục vụ mặt trận. Lúc đó, xe có kính như muôn vàn chiếc xe khác. Nhưng ngày nào xe cũng lao đi giữa bom gầm, đạn nổ khiến kính rạn vỡ, mất dần hết cả. Rồi cả mui xe cũng bị đạn pháo cày hất tung lên. Thùng xe va quẹt nhiều cũng chằng chịt vết xước. Chẳng còn chiếc xe nào còn nguyên vẹn cháu à.
Tôi vẫn còn tò mò, tiếp tục hỏi bố:
_ Lái xe không kính, không mui, không đèn như thế chắc nguy hiểm lắm bác nhỉ?
Bác sôi nổi tiếp lời:
_ Nguy hiểm lắm, cái sống cái chết lúc nào cũng trong gang tấc. Lái xe không kính thì mối nguy hiểm gần nhất là bụi đấy. Đường Trường Sơn mùa khô bụi cuốn mù trời sau làn xe chạy. Bụi cuốn vào mặt, vào quần áo. Bụi dày đặc đến mức mắt cay xè, không thể mở nổi. Lúc ấy, râu, tóc, quần áo và cả xe rực lên một màu đất đỏ Trường Sơn. Rồi cả mưa nữa chứ. Mưa Trường Sơn thường bất ngờ. Đang bụi bám đầy thì bỗng cả người nặng chịch vì ướt sũng nước mưa. Mưa xối xả quất vào người, vào mặt, vào mắt. Những làn nước cay xè, buốt rát khiến việc lái xe khó hơn gấp trăm ngàn lần. Thế nhưng, những người lính lái xe như bác không bao giờ dừng lại, luôn phải tranh thủ tránh giờ cao điểm cháu ạ. Cũng vì xe không kính nên mưa gió vứt vào cabin đủ thứ, nào là lá rừng, nào là cành cây gãy, … Bác đã bao lần bị cành cây cứa vào mặt, vào tay cầm vô lăng, đau rát vô cùng. Gian khổ là thế đấy cháu! Mỗi chuyến chở hàng về tới đích thật sự là một kỳ tích. Vậy mà ký tích vẫn luôn xuất hiện đấy!
Bác mỉm cười, khuôn mặt ánh lên vẻ rạng rỡ và tự hào. Lời bác kể như chất chứa bao nhiệt huyết, bao sôi nổi của một thời tuổi trẻ nơi chiến trường. Bác dường như đang được sống lại những phút giây lịch sử ấy. Không hiểu sao ngay lúc này, những lời thơ của Phạm Tiến Duật lại ùa về, ngân nga trong lòng tôi. Đó chính là một thực tế ở chiến trường ngày ấy. Thế mà, những người lính cụ Hồ vẫn tràn đầy lạc quan, yêu đời, và tin tưởng vào một ngày mai chiến thắng.
Tôi chợt thấy bác Trực trầm ngâm, ánh mắt xa xôi như đang lạc trong dòng hồi tưởng. Còn bố tôi thì ngồi lặng lẽ, khuôn mặt đầy vẻ xúc động. Bác Trực chợt nói:
_ Xe không kính thế mà lại hay cháu ạ. Gặp bạn cũ, gặp đồng đội, gặp đồng hương đều tay bắt mặt mừng qua ô kính vỡ. Giữa đại ngàn mênh mông, bác chợt thấy lòng mình ấm lại vì được chiến đấu bên cạnh những đồng chí yêu thương.
Giọng bác chợt rung lên, đầy xúc động:
_ Cháu không thể hiểu tình đồng chí thiêng liêng, quý giá thế nào với người lính các bác đâu. Dừng xe, ghé vào một bếp Hoàng Cầm, chỉ cần thêm bát thêm đũa là thấy thân thuộc như anh em một nhà. Dù chốc lát nữa thôi, mỗi người sẽ đi mỗi hướng, có khi chẳng bao giờ gặp lại nhau giữa chiến trường ác liệt. Bác và ba cháu có thể trở về hạnh phúc bên gia đình, nhưng bao nhiêu đồng đội của bác đã ngã xuống. Có một đồng đội của bác đã hy sinh ngay sau vô lăng vì quyết tâm lái xe vượt qua làn đạn dù đang bị thương nặng. Ngày ấy, khẩu hiệu “Yêu xe như con, quý xăng như máu” luôn khắc ghi trong tim những người lính lái xe. Dù có hy sinh, các bác vẫn quyết tâm bảo vệ xe và hàng.
Bác chợt im lặng. Không khí cả căn phòng bỗng chốc trở nên thật trang nghiêm.
_ Cháu gái của bác, hai câu cuối của bài thơ có phải là:
“Xe vẫn chạy vì miền Nam phía trước
Chỉ cần trong xe có một trái tim.”
Chiến tranh đã qua lâu rồi, nhưng cho đến tận hôm nay, bác và bố cháu không phút nào quên được mình đã từng là người lính. Bác rất tự hào vì mình đã là người lính lái xe Trường Sơn năm xưa, đã tham gia chiến đấu góp phần giành độc lập tự do cho quê hương đất nước.
Trong tôi bỗng trào dâng một cảm xúc thật kỳ lạ, vừa khâm phục, vừa tự hào. Ngày hôm nay tôi đã hiểu thêm rất nhiều điều. Trước đây, tôi chỉ biết đến cuộc sống êm đềm trong vòng tay ấm áp, chở che của gia đình, thầy cô trong một đất nước hòa bình. Đó là thành quả của bao thế hệ cha anh đã vất vả, hy sinh. Họ chính là bố tôi, bác tôi và những người tôi chưa từng gặp mặt. Tôi phải thật trân trọng cuộc sống hòa bình này và cố gắng trau dồi, hoàn thiện để góp phần xây dựng đất nước thêm tươi đẹp trong thời đại mới. Cảm ơn bác, người lính lái xe năm xưa của Trường Sơn oanh liệt, đã giúp cháu lớn thêm lên nhiều lắm!
Bài 2:
Nhân một chuyến đi thăm nghĩa trang liệt sĩ,tôi gặp người sĩ quan đang đứng thắp hương cho người đồng đội đã mất.Tôi và người sĩ quan đó trò chuyện rất vui vẻ và thật tình cờ tôi biết được người sĩ quan này chính là anh lính lái xe trong “Bài Thơ Về Tiểu Ðội Xe Không Kính” của Phạm Tiến Duật năm xưa.
Người sĩ quan kể với tôi rằng cuộc kháng chiến của dân tộc ta vô cùng ác liệt,những con đường huyết mạch nối giữa miền Nam và miền Bắc lại là nơi ác liệt nhất.Bom đạn của giặc Mỹ ngày đêm dội xuống những con đường này nhằm cắt đứt sự tiếp viện của miền Bắc cho miền Nam.Trong những ngày tháng đó anh chính là người lính lái xe làm nhiệm vụ vận chuyển lương thực,vũ khí,đạn dược…trên con đường TS này.Bom đạn của giặc Mỹ đã biến cho những chiếc xe của các anh không còn kính nữa.Nghe anh kể,tôi mới hiểu rõ hơn về sự gian khổ ác liệt mà những người lính lái xe phải chịu đựng ngày đêm.Nhưng không phải vì thế mà họ lùi bước,họ vẫn ung dung lái những chiếc xe không kính đó băng băng đi tới trên những chặn đường.Họ nhìn thấy đất,nhìn thấy trời,thấy cả ánh sao đêm,cả nhưng cánh chim sa,họ nhìn thẳng về phía trước,phía ấy là tương lai của đất nước được giải phóng,của nhân dân được hạnh phúc,tự do.Người sĩ quancòn kể với tôi rằng không có kính cũng thật bất tiện nhưng họ vẫn lái những chiếc xe đó,bụi ùa vào làm những mái tóc đen xanh trở nên trắng xóa như người già,bọn họ cũng chưa cần rửa rồi nhìn nhau cất tiếng cười ha ha.Ôi! tiếng cười của họ sao thật nhẹ nhõm.Gian khổ ác liệt,bom đạn của kẻ thù đâu có làm họ nãn chí,sờn lòng.Những chiếc xe không kính lại tiếp tục băng băng trên những tuyến đường ra trận,gặp mưa thì phải ướt áo thôi.Mưa cứ tuôn cứ xối nhưng họ vẫn chưa cần thay áo và cứ ráng lái thêm vài trăm cây số nữa,vượt qua những chặng đường ác liệt,đảm bảo an toàn cho những chuyến hàng rồi họ nghĩ mưa sẽ ngừng,gió sẽ lùa vào rối áo sẽ khô mau thôi.Khi được học “Bài Thơ Về Tiểu Đội Xe Không Kính” tôi cứ luôn suy nghĩ rằng những khó khăn gian khổ ác liệt đó chỉ có nhân vật trong bài thơ mới vượt qua được nhưng đó là những suy nghĩ sai lầm của tôi bởi được gặp,được trò chuyện với người chiến sĩ lái xe năm xưa,tôi mới hiếu rõ hơn về họ.Họ vẫn vui tươi,tinh nghịch.Bom đạn của giặc Mỹ ngày đêm nổ sát bên tai phá hủy con đường,cái chết luôn rình rập bên họ nhưng họ vẫn là những con người lạc quan,yêu đời.Anh sĩ quan lại kể cho tôi nghe trên những cung đường vận chuyển đó anh luôn được gặp những người bạn,những người đồng đội của anh.Có những người còn,có những người đã hy sinh…Trong những giây phút gặp gỡ hiểm hoi đó,cái vắt tay qua ô cửa kính vỡ đã làm cho tình đồng đội của họ thấm thiết hơn rồi những bữa cơm bên bếp Hoàng Cầm với những cái bát,đôi đũa dùng chung,quây quần bên nhau như một đại gia đình của những người lính lái xe TS.Rồi những giây phút nghỉ ngơi trên chiếc võng đu đưa,kể cho nhau nghe sự ác liệt của những cung đường đã đi qua.Sự dũng cảm của các cô gái thanh niên xung phong luôn đảm bảo cho những chuyến xe thông suốt.Đúng là con đường của họ đang đi,nhiệm vụ của họ đang làm vô vùng nguy hiểm.Bom đạn Mỹ hạ xuống bất cứ lúc nào,cả ngày lẫn đêm.Anh sĩ quan còn nói cho tôi biết những chiếc xe ấy không chỉ mất kính mà còn mất cả đèn,rồi không có mui xe,thùng xe rách xước,những thiếu thốn này không ngăn cản được những chiếc xe vẫn chạy băng băng về phía trước,phía trước ấy là miền Nam ruột thịt.Nghĩ đến hình ảnh những chiếc xe băng băng về phía trước tôi lại nghĩ đến những người lính lái xe.Họ thật dũng cảm,hiên ngang,đầy lạc quan,có chút ngang tàng nhưng họ sống và chiến đấu vì Tổ Quốc,vì nhân dân.Những chuyến hàng của họ đã góp phần tạo nên chiến thắng của dân tộc ta:chiến thắng mùa xuân năm 1975,giải phóng miền Nam,thống nhất đất nước.
Tôi và anh sĩ quan chia tay nhau sau cuộc gặp gỡ và nói chuyện rất vui.Tôi khâm phục những người lính lái xe bởi tình yêu nước,ý chí kiên cường của họ và tôi hiểu rằng thế hệ chúng tôi luôn phải ghi nhớ công ơn của họ,cần phải phấn đấu trở thành công dân gương mẫu,nắm vững khoa học,kĩ thuật để xây dựng một đất nước văn minh,hiện đại
Bài 3:
Hôm ấy, nhân ngày thành lập Quân đội nhân dân Việt Nam 22/12, trường tôitổ chức cho đi thăm quan Bảo tàng Lịch sử quân đội. Chúng tôi được chiêmngưỡng biết bao hiện vật lịch sử: những khẩu súng trường, mảnh vỡ của bom đạn,cùng với chiếc mũ tai bèo, chiếc ba lô con cóc thân thương…Đang tham quan, tôinhìn thấy một chiếc xe tải sơn xbác, không kính nằm thu mình ở một góc nhỏ.“Không có kính không phải vì xe không có kính…”, bất chợt những tứ thơ khẩungữ, khỏe khoắn từ “Bài thơ về tiểu đội xe không kính” ấy vang lên trong thâmtâm tôi. “Liệu đây có phải là cái xe ấy không?”, đang băn khoăn, tôi bỗng thấy một bác mặt áo bộ đội, đứng từ xa lặng lẽ quan sát xe. Từ từ bước đến bên, tôi lặp bặphỏi: “Bác là người lái chiếc xe này đó ư?”. Bác quay sang tôi, mỉm cười: “Ừ, bác làlính Trường Sơn năm xưa cháu ạ”…Bác dẫn tôi tới quan sát chiếc xe gần hơn; lần đầu tiên, tôi được chiêmngưỡng tận mắt một chiếc xe tải quân sự. Quả lả một chiếc xe “trần trụi”: không cókính, lại không có cả đèn, không có mui, thùng xe lại còn xước. Sinh ra và lớn lêntại thủ đô trong thời bình, từ bé tôi chỉ bắt gặp những chiếc ô tô lành lặn, nước sơnsạch bóng, nội thất khang trang; không ngờ một chiếc xe tróc sơn, hỏng hóc nặngnề như thế này vẫn có thể hiên ngang lướt đi và mang theo biết bao súng đạn,lương thực chi viện. Thật là một chuyển động kì diệu! Đang tròn mắt ngạc nhiên vìthán phục, bỗng bác chiến sĩ vỗ vai tôi, trầm giọng kể: “Chiến trường khốc liệt lắmcháu ạ! Hằng ngày máy bay Mĩ trút hàng ngàn tấn bom đạn cày xới, phá hoạiTrường Sơn hòng cắt đứt chi viện của ta. Các trọng điểm lúc nào cũng mịt mù khóilửa, bom rơi. Ngày qua ngày, xe luôn phải chịu những chấn động, rung xóc dữdội.”. À đúng rồi, tại đế quốc Mĩ xâm lược, tàn phá mà chiếc xe mới trở nên tanhoang. Tôi rùng mình trước cuộc chiến trbác thật vô cùng gian nan, khốc liệt…Khuôn mặt bác trầm ngâm, đôi mắt hướng về chiếc xe một cách xa xăm.Bỗng bác vụt giọng vui vẻ: “Nhưng mà xe không kính hóa ra cũng có cái hay. Taung dung ngồi trong buồng lái, thoải mái phóng tầm mắt ra xung quanh mà nhìntrời, ngắm đất, chiêm ngưỡng vẻ đẹp hoang sơ mà hùng vĩ của rừng núi TrườngSơn. Không có kính mà, gió cứ đùa chơi trong cabin, xoa vào đắng mắt. Nhưngcàng hòa mình vào thiên nhiên đất nước, bác lại càng thấy lòng mình sục sôi bầunhiệt huyết và lạc quan; lúc đó con đường khúc khuỷu ngoặt ngoèo vẫn còn đầynhững chông gai phía trước, dường như rộng mở và tươi sáng hơn. Nó như chạythẳng vào con tim, khiến bác vừa hứng khởi hân hoan, lại vừa lao xao hồi hộp. Bácnhìn thấy cả những cánh chim bay về tổ ban chiều; khi đó tâm trí lại bồi hồi, xao xuyến nhớ về cha mẹ, quê hương. Màn đêm buông xuống, tuy không có đèn pha phía trước, nhưng trên bầu trời vẫn có những vì sao rọi sáng, soi đường dẫn lối choxe bác qua. Hướng mắt tới những ngôi sao xa xôi, bác nao lòng nghĩ đến miền Nam ruột thịt đang mong đợi. Ôi, cháu ơi, mọi thứ xung quanh cứ như sa, như ùavào buồng lái.”Tôi háo hức nghe bác kể chuyện. Những người chiến sĩ lái xe quả thật kiêncường, dũng cảm. Dù cho có ở trong chiến tranh khốc liệt, họ vẫn tràn đầy khí thếung dung, lạc quan, thư thái thả mình vào vẻ đẹp huyền diệu của núi rừng, để chotâm hồn dạt dào, trào dâng bao lãng mạn…Chợt nhớ ra những ý thơ “Không có…ừthì…”, tôi hỏi: “Thế không có kính, bác đối chọi với thiên nhiên thời tiết ra sao?”.Bác liền cười: “Cứ mặc kệ nó thôi, cháu ạ. Không có kính, ừ thì bụi thật đấy. Bụi bẩn bắn từ đường lên sạm hết cả mặt, đến mái tóc đen cũng trở nên trắng xóa nhưcụ già. Nhưng cứ để nguyên; phì phèo châm điếu thuốc , thấy mặt cứ ngồ ngộ, làlạ, bác bỗng bật cười. Khuôn mặt lấm lcháu cát bụi hóa ra lại vui! Thế rồi cả nhữngkhi mưa to, đường rừng trở nên trơn trượt, lầy lội khiến bác dán mắt vào từng đoạnđường, lái xe cẩn thận hơn; nhưng cùng lúc đó, mưa tuôn mưa xối qua chiếc cửakính vỡ kia làm bác ướt hết cả áo quần, mặt mũi. Trên đỉnh Trường Sơn này, cólúc mưa lâm râm, nhưng nhiều khi lại trút xuống ào ào, thối đất thối cát. Ô hay,mặt bác đã được rửa sạch trơn, nhưng áo quần lại ướt như chuột lột. Nhưng còntâm trí đâu mà để ý đến những cái đó nữa. Mắt còn mải mê với những cung đườngghập ghềnh khúc khuỷu, con tim đập rộn ràng thúc giục vì miền Nam, bác tự nhiênquên đi gian khổ. Mà lái trăm cây số nữa, kiểu gì mưa chả phải ngừng; nắng lên,gió lùa vào buồng lái, áo khô mau thôi!”. Nụ cười rạng rỡ của bác làm cho tôi khâm phục. Nụ cười ấy đã hiên ngangtrong phong ba bão táp; kiên cường, dũng cảm bất chấp thời tiết khắc nghiệt,những cung đường thử thách gian lao. Vì lí tưởng sống cao đẹp, vì tiếng gọi của Tổquốc thiêng liêng, các bác sẵn sàng chiến đấu, quên đi tất cả. Thế rồi tôi lại hỏi:“Lái xe giữa rừng một mình thế này, bác có cảm thấy cô đơn không?”. Bác lại bậtcười: “Làm sao mà cô đơn được hả cháu? Bên bác còn có trời đất, núi rừng TrườngSơn nữa cơ mà. Với lại có phải một mình bác lái xe đâu, trên tuyến đường này vẫncòn biết bao nhiêu chiếc xe khác ngày đêm chuyên chở vũ khí, lương thực. Anh emđồng chí gặp nhau suốt dọc đường đi tới, trao cho nhau cái bắt tay. Chỉ một cái bắttay chớp nhoáng qua ô cửa kính vỡ kia thôi, vậy mà khiến bác ấm áp cả con người,như được tiếp thêm niềm tin và sức mạnh. Xe lại tiếp tục chạy, bầu trời càng tươi xanh. Và rồi khi nghỉ giữa chặng xe, bác còn được quây quần bên bạn bè, đồngđội. Bên bếp Hoàng Cầm, cùng chung bát đũa, mọi người thân tình, cởi mở, sẻchia những vui buồn cho nhau. Nhiều khi tất cả cùng ca hát, mìm cười rồi vỗ tay,truyền cho nhau nhiệt tình cách mạng và yêu thương, xua tan đi khó nhọc. Tìnhđồng chí, đồng đội thật đẹp quá, cháu ạ!”.Đúng là đẹp thật! Quả đúng là “Chỉ cần trong xe có một trái tim”! Nhữngngười chiến sĩ cùng chung niềm tin, lí tưởng, sát cánh bên nhau. Họ truyền sứcmạnh và hơi ấm cho nhau, để cùng nhau chiến đấu vì miền Nam ruột thịt. Hình ảnhngười lính lái xe thật sinh động.

Kể về cuộc gặp gỡ với các chú bộ đội nhân ngày 22/12

Kể về cuộc gặp gỡ với các chú bộ đội nhân ngày 22/12

Nhân kỷ niệm ngày thành lập quân đội nhân dân Việt Nam,trường em tổ chức cho học sinh đi thăm một đơn vị bộ đội.Trong buổi gặp gỡ đó em được thay mặt các bạn phát biểu những suy nghĩ tình cảm của mình .
Xe dừng bánh,cả doanh trại bộ đội rộng lớn,sạch sẽ,ngăn nắp hiện ra trước mắt.Hội trường trang hoàng lộng lẫy,các bác các chú quân phục chỉnh tề,gương mặt rạng rỡ,tự hào.Chúng em quây quanh các chiến sỹ áo xanh,mặt các bạn hớn hở, hãnh diện lạ thường!Chúng em hỏi các chú nhiều chuyện lắm,cả về lịch sử ra đời ngày 22/12 nữa.Giờ thì chúng em đã biết:Bác Hồ chỉ thị thành lập đội Việt Nam tuyên truyền giải phóng quân vào ngày 22/12 /1944.Ngay sau đó đội đánh thắng 2 trận liên tiếp tại Phăy Khắt,Nà Ngần…Đội ngày càng lớn mạnh và được đổi tên thành QĐND Việt Nam.Và từ đó lấy ngày 22/12 làm ngày truyền thống.Bây giờ thì em đã hiểu lịch sử ra đời của ngày 22/12,hiểu về truyền thống yêu nước và ý chí chiến đấu bảo vệ đất nước của dân tộc ta.Càng hiểu em càng thấy trân trọng và muốn khắc ghi vào tiềm thức đển nhớ về một thời kì hào hùng với những con người quả cảm của một đất nước bé nhỏ mà kiên cường…
Chúng em còn được nghe kể nhiều về những chiến công anh dũng,hào hùng của những người lính cụ Hồ,về những tháng năm bôn ba chinh chiến chống kẻ thù xâm lược,những gian khổ hy sinh không thể diễn tả bằng lời.Đến thời bình,bộ đội đâu đã hết nguy nan:Những đêm tuần tra lạnh run người khi truy bắt tội phạm chống lại những lực lượng thù địch phá hoại từ bên ngoài,những lúc giúp dân chống thiên tai,lụt lội…Nhìn gương mặt rắn rỏi,xạm đen vì nắng gió,nghe những câu chuyện kể và chứng kiến vẻ bình thản của những chiến binh,em thật sự thấy rất cảm động xen lẫn cả niềm tự hào,biết ơn sâu sắc…Trong dòng cảm xúc khó tả,ấy em lại được vinh dự thay mặt các bạn phát biểu những suy nghĩ tình cảm của mình:“Kính thưa các bác ,các chú ,chúng cháu may mắn được sinh ra và lớn lên trong một dân tộc anh hùng.Chúng cháu biết để có được cuộc sống hòa bình hôm nay,dân tộc Việt Nam đã phải đánh đổi rất nhiều,bằng cả nước mắt và máu xương của bao người đã hy sinh cho Tổ quốc.Để thể hiện lòng biết ơn của thế hệ mình đối với cha anh,chúng cháu hứa sẽ nỗ lực học tập,rèn luyện,tu dưỡng để trở thành những công dân có ích,góp phần nhỏ bé của mình xây dựng đất nước.Có như vậy mới xứng đáng với truyền thống cao quí cuả dân tộc,xứng đáng với sự hy sinh của bao thế hệ cha anh.”Em ngồi xuống mà thấy tay mình vẫn còn run,trái tim lâng lâng một cảm xúc bay bổng lạ kì .
Ánh nắng đã nhạt dần,chúng em chia tay với các bác,các chú trong lưu luyến.Buổi gặp gỡ đã khơi dậy những ước mơ trong em,tăng thêm lòng quyết tâm và niềm tin của em vào một tương lai tươi sáng .

Aragông và bài thơ Enxa ngồi trước gương

Aragông và bài thơ Enxa ngồi trước gương

Aragông là nhà văn, nhà thơ lớn của nền văn học hiện đại Pháp trong thế kỷ 20. Hành trình thế kỷ của ông cũng là hành trình của chân lý nghệ thuật và hành trình lý tưởng cách mạng…

Nếu “Đảng đã cho tôi sáng mắt sáng lòng… Máu tôi đỏ và tim tôi yêu nước” thì Enxa đã “tái sinh” đời ông và khơi nguồn cảm hứng dào dạt thi ca của ông:
“Và cuộc đời tôi rút cuộc
Tóm lại ở tên nàng Enxa”
Là người lính từng tham dự thế chiến lần thứ nhất và lần thứ hai. Ba thập niên trôi qua mà tâm hồn Aragông vẫn u ám, chán nản. Năm 31 tuổi ông gặp Enxa cô gái Nga kiều diễm, nữ văn sĩ, tâm hồn ông được hồi sinh, như ông đã viết:
“Anh quả thật đã sinh từ môi ấy
Cuộc đời anh khởi sự tự em đây”
Enxa là người vợ thủy chung, là bạn văn chương chí thiết, là đồng chí chiến đấu sinh tử có nhau của Aragông. Với tấm lòng biết ơn sâu sắc, có lúc Aragông tự ví đời ông “như một trái cây, bị sâu ăn ba mươi năm một nửa, còn nửa kia ít nhất ba mươi năm nữa, ông trả cho Enxa để cắm ngập răng vào” ( Aragông lấy Enxa năm ông 31 tuổi).
Aragông để lại hàng nghìn trang tiểu thuyết qua các tác phẩm như “Những khu phố”, “Những hành khách trên xe”, “Ôrêliêng”, “Những người cộng sản”, “Tuần lễ thánh”, v.v… Văn nghiệp rạng ngời của Aragông là ở “Vườn thơ Enxa”, gồm có 5 khúc ca chính: “Đôi mắt và trí nhớ”, ” Cuốn tiểu thuyết chưa hoàn thành”, “Các nhà thơ”, “Enxa” và “Anh chàng say đắm Enxa”.
Có thể nói hình tượng Enxa cũng là tâm hồn, là tình yêu và lẽ sống cao đẹp của Aragông. Người ta nhắc tên Aragông là nhắc đến tên tuổi một trí thức Pháp lỗi lạc, một chiến sĩ yêu nước chống phát xít, một nhà văn, nhà thơ từng viết nên những khúc ca được ngợi ca là “tác phẩm loại hay nhất của thơ ca châu Âu thế kỷ 20” (M.Alighe).
Bài thơ “Enxa ngồi trước gương” được Aragông viết vào cuối năm 1942, đầu năm 1943, sau được in trong tập “Tiếng kèn trận Pháp” xuất bản năm 1946, một năm sau khi thủ đô Paris được giải phóng. Nó được đánh giá là “những vần thơ sáng bừng lên ngọn lửa” trong những năm tháng Aragông – Enxa cùng chiến đấu trong Phong trào kháng chiến chống phát xít Đức, hoạt động bí mật giữa thủ đô Paris đang bị quân thù chiếm đóng.
Bài thơ gồm có 30 câu, 4 khổ đầu 20 câu thơ nói về Enxa chải tóc; 5 khổ sau gồm 10 câu thơ diễn tả tâm tư của Enxa và suy ngẫm của tác giả. Không có dấu chấm câu giữa các dòng thơ; các điệp ngữ và lặp hình ảnh ở một tần số cao thể hiện bút pháp nghệ thuật độc đáo của Aragông mà ta cảm nhận.
Mái tóc Enxa là một hình ảnh đầy ấn tượng được điệp lại rất nhiều lần: “Nàng chải miết mái tóc vàng rực rỡ… Chiếc lược phân chia ánh lửa vàng óng ả… Và mái tóc vàng khi nàng đến ngồi soi”… Mái tóc vàng ấy được gắn liền với từ “lửa” tạo nên hình ảnh ẩn dụ không chỉ ngợi ca nhan sắc kiều diễm của Enxa mà còn khẳng định ý chí, nghị lực của nữ chiến sĩ đang kiên cường chống phát xít xâm lược!
Bài thơ được viết vào cuối 1942 đầu 1943 khi thế chiến thứ 2 đang diễn ra ác liệt. Cuộc chiến đấu chống họa phát xít đẫm máu đã được 4 năm, đang bước sang năm thứ 5. Cả châu Âu và thủ đô Paris đang bị phát xít Đức giày xéo.Aragông đã nói rõ điều đó:
“Ngay giữa hồi bi kịch của ta đây
Như thứ năm cứ hàng tuần ngồi đó”.
Có hiểu được tính hiệu “thứ 5… hàng tuần” mới cảm nhận được ý thơ “bi kịch của ta”, mới cảm nhận được hình ảnh “Nàng chải miết mái tóc vàng rực rỡ – Bàn tay nàng như kiên trì giập lửa”…
Cùng với hình ảnh “mái tóc vàng rực rỡ” là hình ảnh “tấm gương soi” cũng được nhắc lại rất nhiều lần: “Một ngày dài ngồi bên tấm gương soi… Suốt ngày dài ngồi bên tấm gương soi,… Cuộc đời oái oăm như tấm gương soi… Nàng thấy nhòa đi trong tấm gương soi…” – “Tấm gương soi” và từ “trí nhớ” gắn liền với nhau như hình với bóng; tất cả đầu mang hàm nghĩa; tấm gương phản chiếu tâm hồn, tấm gương chiếu sáng cuộc đời (cuộc thế chiến 2, cuộc chiến đấu), tấm gương của tình yêu, của tình bạn thủy chung, trong sáng:
– “Như cố tình nàng giày vò trí nhớ
Suốt ngày dài ngồi bên tấm gương soi”
– “Một ngày dài ngồi soi vào trí nhớ
Nàng thấy nhòa đi trong tấm gương soi”
– v.v…
Câu thơ “Một ngày dài ngồi bên tấm gương soi – Nàng chải miết mái tóc vàng rực rỡ” là một câu thơ đẹp đầy ý vị. Tác giả lấy thời gian (một ngày dài), lấy không gian (bên tấm gương soi), lấy cử chỉ (chải miết mái tóc) – để diễn tả tâm tư day dứt, dằn vặt của Enxa. Nàng đau khổ vì nước Nga quê hương, nước Pháp, quê chồng đang bị phát xít Đức giày xéo. Ngọn lửa căm thù và uất hận quân xâm lược đang nung nấu trong tâm can nàng. Ý chí chiến đấu kiên cường và nghị lực lớn lao đang thắp sáng tâm hồn người nữ chiến sĩ đang đấu tranh cho tự do:
“Nàng chải miết mái tóc vàng rực rỡ
Bàn tay nàng như kiên trì giập lửa
Ngay giữa hồi bi kịch của ta đây”.
Có lúc đó là những suy nghĩ về sống và chết, về chiến đấu và hy sinh cho tự do của các chiến sĩ yêu nước; tên tuổi và khí phách mãi mãi ngời sáng: “Nàng thấy nhòa đi trong tấm gương soi – Các diễn viên bi kịch của ta đây – và đấy là các diễn viên ưu tú”. Những “diễn viên ưu tú” ấy là các chiến sĩ yêu nước Pháp, trong đó có hàng ngàn đảng viên Cộng sản Pháp, những đồng chí chiến đấu của Aragông – và Enxa, những anh hùng như Pêri, trước họng súng quân xâm lược vẫn hiên ngang, bất khuất: “Nếu phải đi trở lại – Tôi đi lại đường này… Anh hát dưới làn đạn – Cờ đỏ dựng lên rồi…” (Bài ca của người hát trong ngục rù tra tấn).
Ẩn hiện và thấp thoáng sau những hình ảnh về mái tóc vàng rực rỡ, về tấm gương soi,… là hình ảnh nhà thơ – chủ thể trữ tình – khi ngắm nhìn “Nàng chải miết mái tóc vàng rực rỡ”, để rồi đăm chiêu suy ngẫm về “bi kịch của chúng ta”, về cuộc chiến đấu mất, còn, để tiêu diệt quân phát xít man rợ của các chiến sĩ yêu nước – các diễn viên ưu tú – giữa “đám lửa đêm dài” trong chiến tranh thế giới lần thứ Hai:
“Chiến lược phân chia ánh lửa vàng óng ả,
Làm lóe sáng trong tôi bao trí nhớ”
Phần cuối bài thơ (trong bản tiếng Pháp và trong bài thơ dịch), từ “và” được điệp lại 5 lần, đứng ở vị trí đầu câu thơ: “Và đấy là… Và chẳng nêu tên… Và rõ ý sâu xa… Và mái tóc vàng… Và lẳng lặng chải…” – đã làm cho cảm xúc trữ tình dân lên cao trào, thắm thiết… Tâm tư, tình cảm của nhà thơ trở nên da diết, sôi nổi và mạnh mẽ vô cùng. Tự hào về người bạn đời thủy chung. Tự hào về các chiến hữu kiên cường, anh dũng “các diễn viên ưu tú”. Tự tin về con đường giải phóng và tự do:
“Các diễn viên bi kịch của ta đây
Và đấy là các diễn viên ưu tú
Và chẳng nêu tên mọi người đều rõ
Và rõ ý sâu xa đám lửa đêm dài
Và mái tóc vàng khi nàng đến ngồi soi
Và lẳng lặng chải ánh vàng rực lửa”
Thật khó mà nói lên cảm nhận về tình cảm của thơ Aragông qua một bản dịch thơ? Trong cuộc chiến đấu đẫm máu giữa thế chiến khốc liệ, khi chân trời thắng lợi còn xa vời chưa hé rạng đông, thế mà câu thơ sáng lên trong màu vàng rực rỡ của mái tóc, trong tâm thế của người nữ chiến sĩ soi gương, mải miết chải tóc “như lơ đãng dạo khúc đàn êm ả”… là sự biểu hiện cao đẹp của tinh thần lạc quan yêu đời và tin tưởng mãnh liệt. “Enxa ngồi trước gương” là một khúc ca trữ tình và chiến đấu đầy thi vị về một tình yêu đẹp; tình yêu lứa đôi, tình chiến hữu, tình yêu tự do chan hòa với tình yêu nước và yêu lý tưởng cách mạng.
“Enxa ngồi trước gương” là một giai điệu trầm hùng của “Tiếng kèn trận Pháp” vang lên, trong ngọn gió thời đại. Một nửa thế kỷ đã đi qua mà ta vẫn còn nghe văng vẳng bên tai.

Cảnh sắc và con người đất kinh kỳ trong thơ văn thời thịnh Lê

Cảnh sắc và con người đất kinh kỳ trong thơ văn thời thịnh Lê

Nói đến thơ văn thời thịnh Lê, dễ có cảm tưởng chúng mang đậm tính chính thống, quan phương, và kinh đô khi được tái hiện lại trong nhóm tác phẩm ấy cũng khó xa rời mục đích chính trị – yếu tố dễ khiến sáng tác nghệ thuật trở nên khuôn sáo. Nhưng nếu quan sát kỹ hơn, có thể thấy bên cạnh tính quy phạm không thể phủ nhận, vẫn còn đó trong thơ ca thời thịnh Lê nét đẹp thi vị dễ quyến lòng người của cảnh sắc và con người trên đất kinh kỳ.
Công bằng mà xét, phải đâu tính chất cung đình, tụng ca của văn học giai đoạn này chỉ mang đến bất lợi cho văn học, mà nhìn từ góc độ khác, đã tạo nên những vần thơ giàu mỹ cảm, là “lời ca chân thành và say sưa của các thi sĩ trước cảnh sắc thiên nhiên, cuộc sống thanh bình”. Rõ ràng là dưới triều vua Lê Thánh Tông, khi lực lượng sáng tác chuyển sang quy tụ hoàn toàn ở phía nhà nho thì kinh đô, mảnh đất gắn liền với cuộc đời của nhiều nho sĩ, đã dần trở thành không gian quen thuộc gợi nên biết bao xúc cảm. Chính vì thế, ít nhiều bức tranh Thăng Long trong văn học thời thịnh Lê vẫn có sức hấp dẫn riêng, phần nào thể hiện được cảm nhận tinh tế của các tác giả trước vẻ đẹp quê hương buổi thịnh triều.

Trong cảm hứng ngợi ca “Nhà nam nhà bắc đều no mặt – Lừng lẫy cùng ca khúc thái bình”– nguồn cảm hứng chủ đạo của thời đại tạm ngừng việc võ, bắt đầu sửa sang việc văn – bức tranh kinh thành hiện lên rạng rỡ. Các nhà nho hào hứng xướng họa, ngâm vịnh về cảnh đẹp quê hương, trong đó có Thăng Long, say mê trước cuộc sống thái bình dần được khôi phục sau nhiều năm đất nước bị giặc Minh tàn phá nghiêm trọng. Không còn khung cảnh ngọc kinh mờ dưới cơn mưa chiều(5) những năm triều Trần suy yếu, giờ đây mỗi danh thắng của đất đế đô đều mang vẻ bề thế, vững chãi. Cảnh xuất hiện trong thơ có thể rất khác nhau, từ chùa An Quốc uy nghiêm trấn giữ đế kinh:
“Trung lập kiền khôn vững đế đô,
Mảng danh An Quốc ở Tây Hồ.
Xuân thu thêm có mười phân lạ,
Hoa cỏ đành hay một thức phô.”
(Lê Thánh Tông, Chùa An Quốc)
đến hồ Tây tĩnh lặng, thơ mộng:
“Vằng vặc trời thanh đọt đọt cây,
Thảnh thơi ngày tĩnh cảnh hồ Tây.”
(Khuyết danh, Hoa sen lúc tạnh mưa)
Nhưng cái giọng đĩnh đạc, thảnh thơi, cái sắc thái tràn trề, viên mãn, vạn vật đua nở “mười trượng hoa thì mười trượng hương” lại không hề sai biệt. Đặc biệt trong thơ Lê Thánh Tông xướng họa với quần thần, nét sang trọng của cảnh sắc kinh đô càng hiển hiện rõ rệt. Với niềm tin ca ngợi Thăng Long cũng là ca ngợi “thế nước vững như bàn thạch, ngôi vua rạng rỡ như sao Cơ, sao Dực”, các nhà nho gửi cả tấm lòng hứng khởi nhiệt thành vào bức tranh kinh đô những năm phồn thịnh. Từng ngọn cỏ, nhành cây Thăng Long, qua đôi mắt của lớp tác giả đại diện cho cả một chế độ phong kiến đang lúc thịnh đạt này, thường vượt khỏi nét nghĩa thực để vươn đến những tầng ý nghĩa rộng lớn hơn. Một cây me giữa kinh thành cũng được ví von như bạn của đấng công hầu:
“Mấy phút từng nhờ ơn vũ lộ,
Tư mùa chẳng khỏi bạn công hầu.
Chẳng hay là đã bao nhiêu kiếp,
Chờ trạng hằng che thuở gác lầu.”
(Khuyết danh, Cây me trong thành cấm)
còn cảnh hồ Tây lại biến thành tấm gương lớn soi bóng nước non ngàn dặm:
“Nhìn xa bóng núi bao trùm;
Ngó xuống gương hồ sáng tỏ.
Lẫn một sắc với vòm trời;
Ngậm muôn hình trong viễn phố.”
(Lê Thánh Tông, bài phú nằm trong truyện Gặp tiên ở hồ Lãng Bạc)
Bài phú trên được Lê Thánh Tông ghi lại trong câu chuyện huyễn hoặc Gặp tiên ở hồ Lãng Bạc (Thánh Tông di thảo). Có thể xem đấy là tác phẩm đầu tiên thuộc thể phú, với ưu thế về khả năng miêu tả những cảnh tượng rực rỡ, xa hoa, đã khắc họa khá tỉ mỉ khung cảnh hồ Tây – Thăng Long, đồng thời tổng kết lại mấy trăm năm thăng trầm của lịch sử dân tộc. Đáng chú ý hơn, ở đây một mặt Thăng Long tồn tại như chứng nhân lịch sử gìn giữ vết tích của các triều đại trước nhưng mặt khác, chính lịch sử đã trở thành yếu tố quan trọng dự phần vào nét độc đáo của Thăng Long. Những sự kiện “đem hà đồ lại biếu”, “bưng kiếm báu dâng lên”, những cuộc chơi “săn được người hóa hổ”, “nghi vệ rườm rà”, tất cả khoác lên mảnh đất này vẻ phồn hoa, sang trọng, dồn tụ phúc khí đế vương mà vùng miền khác không thể sánh được:
“Thành lớn Thăng Long chốn ấy;
Kinh đô triều đại xưa kia.
Là nơi danh thắng;
Cờ quạt đi về.
Nhớ triều Lý đương khi toàn thịnh;
Thường thả thuyền cưỡi sóng nhởn nhơ.
Nhờ ông chài là tay dũng kiệt;
Săn được người hóa hổ giỡn vua chơi.
Rồi kế đó nhà Trần trỗi dậy;
Đã đến đây trồng sen, vịnh thơ.
Nào đền đài xây cao chót vót;
Nào cuộc chơi nghi vệ rườm rà.

Trâu nâng kiệu ngọc;
Phượng đỡ xe loan.
Chim âu lượn trên làn sóng biếc;
Đàn cá nhỏ mặt nước chờn vờn.
Tia đội vùng ô lấp lánh;
Bóng chìm ngọc bích chập chờn.
Già ngũ lão đem hà đồ lại biếu;
Người kim nhân bưng kiếm báu dâng lên.
Chẳng những vậy, lịch sử còn để lại nhiều bài học giá trị về quy luật tồn vong của các vương triều:
“Phải chăng thịnh suy có số;
Hay là trong đục tự người?”
Tuy mối quan hệ giữa mệnh trời và đức nhân là vấn đề thường được nhắc đến trong văn học trung đại song với trường hợp vua Lê Thánh Tông, sự đúc kết trên lại có một ý nghĩa sâu sắc. Bản thân nhà vua bằng sự nghiệp chính trị đã dùng tất cả tâm sức mở ra một thời kỳ thịnh vượng, cho nên những chiêm nghiệm của ông về vận nước thể hiện qua thơ văn, ngay cả thơ văn xướng họa, không phải chỉ là lời nói tán tụng suông mà còn hàm chứa tầm nhìn xa rộng của bậc đế vương. Vì thế, có quá lời chăng nếu nói rằng: suy cho cùng cái choáng ngợp của đình đài chỉ mang đến cho kinh đô vẻ hào nhoáng bên ngoài, còn nét sang trọng thật sự lại ẩn sâu trong những suy ngẫm lớn lao và minh triết về chân lý giữ nước mà người Tràng An đã đúc kết qua thơ văn của mình?
Như vậy, không thể phủ nhận trong thơ văn xướng họa, quan hệ quân – thần luôn đòi hỏi ở tác phẩm tính chuẩn mực, quy phạm. Đồng thời, dưới sự tác động mạnh mẽ của hệ tư tưởng chính thống nho giáo, hình ảnh cảnh vật và con người Thăng Long trong văn chương cũng được lọc qua mỹ cảm đậm màu nho. Tuy nhiên, dù gắn liền với triết học và chính trị đến đâu thì văn chương vẫn không phải là triết học và chính trị. Tự thân các hình ảnh thơ, ngoài ý nghĩa biểu tượng mang tính công thức, còn có sức gợi cảm riêng nhờ nghệ thuật miêu tả tinh tế. Bên cạnh đó, sự góp mặt của chữ Nôm như một ngôn ngữ nghệ thuật đích thực ở thế kỷ XV đã mở ra cho thơ ca khoảng trời sáng tạo mới, làm mềm đi cái khô cứng, sáo mòn của văn chương ca tụng. Tất cả các yếu tố này xuyên thấm vào nhau cùng tái hiện nên một Thăng Long với những tính chất tưởng như hoàn toàn đối lập: sang trọng nhưng vẫn có nét gần gũi, đúng chuẩn mực nhưng đồng thời đã manh nha nhiều biểu hiện vượt thoát khỏi tính khuôn sáo, công thức. Ngay cả “chủ soái” Lê Thánh Tông với ngòi bút có vẻ rất trang nghiêm khi vịnh cảnh chùa An Quốc “trung lập kiền khôn vững đế đô” cũng không giấu được một thoáng trữ tình đầy ý vị ở hai câu thơ cuối:
“Kìa ai đủng đỉnh làm chi đấy?
Một tiếng kình khua một chữ mô.”
Nhà vua đang hỏi các vị thiền sư chăng? Cái giọng điệu “kìa ai… đấy” lẽ nào dành cho bậc tu hành đắc đạo? Hẳn phải có duyên cớ nào đó để Thăng Long trong nhiều thế kỷ sau vẫn còn truyền tụng những giai thoại gắn liền với tâm hồn đa tình của vua Lê Thánh Tông. Công dư tiệp ký (Vũ Phương Đề) ở thế kỷ XVIII có ghi chép lại câu chuyện tương ngộ “hồn bướm mơ tiên” giữa quân vương và giai nhân xảy ra ở chùa Ngọc Hồ – danh lam đất đế kinh. Chuyện kể rằng nhân đến Quốc tử giám, vua Lê Thánh Tông đi qua chùa Ngọc Hồ, ghé vào thăm chùa, có duyên gặp gỡ một ni cô rất đẹp, lại giỏi thi từ. Vua và ni cô từng cùng nhau bình thơ, sau đó ngài phục tài, mời ni cô về cung nhưng đến cửa Đại Hưng thì ni cô biến mất. Nhà vua lấy làm lạ, cho là tiên giáng trần, bèn làm Vọng tiên lâu để kỷ niệm. Ngỡ như Thăng Long chỉ là mảnh đất của lịch sử các vương triều, ấy thế nhưng không phải. Chốn đô hội này còn là nơi “cực lạc”, lưu giữ cả những vần thơ đong đầy tình cảm, có khả năng làm rung động lòng người:
“Bể ái nghìn tầm mong tát cạn,
Sông êm muôn trượng chửa khơi vơi.
Nào nào cực lạc là đâu đó,
Cực lạc là đây, chín rõ mười!”
(Thân Nhân Trung, Qua chùa Ngọc Hồ gặp tiên)
Có thể nhìn thấy trong tâm hồn mỗi nhà thơ, Thăng Long luôn rất thơ mộng. Đoan chắc đấy chính là lý do vì sao các thi nhân đặc biệt yêu mến cảnh đẹp hồ Lãng Bạc. Có cái gì đó tao nhã, thanh bạch mà bình dị bàng bạc trong ánh trăng, phảng phất sau dáng vẻ tinh khôi của cành sen nơi hồ Tây:
“Bắc khuyết vô thư can thế dự,
Tây hồ hữu nguyệt cấp thi bần.”
(Thái Thuận, Đề Toán Viên phường sở cư bích thượng
(Không dâng thư lên cửa bắc để cầu cạnh tiếng tăm ở đời,
Chỉ có trăng hồ Tây cung cấp cho cảnh sống thanh bạch của khách thơ.)(8)
(Thơ đề vách nhà tại phường Toán Viên)
hay:
“Vằng vặc trời thanh đọt đọt cây,
Thảnh thơi ngày tĩnh cảnh hồ Tây.
Mưa thuở sịch, hài xanh chúc,
Gió khi thổi, tán lục xoay.”
(Khuyết danh, Hoa sen lúc tạnh mưa)
Không bàn đến tính ước lệ, tượng trưng thường thấy trong thơ vịnh, chỉ nhìn vào những đường nét miêu tả, thực sự đấy là một bức tranh mới mẻ về hoa sen và cảnh hồ Tây. Cái mới dễ nhận thấy nhất nằm ngay trong hình ảnh. Ngôn từ như đang cựa quậy, khắc nổi lên trên trang thơ hình ảnh lá sen lúc cuộn thành chiếc hài xanh trong cơn mưa, khi lại giương tròn thành tán lá xoay theo cơn gió. Nhưng ngoài ra, còn cái mới khó nhận thấy hơn được che giấu khéo léo sau nụ cười hóm hỉnh, ý nhị. Hãy thử xem cành sen hồ Tây lúc đã tàn có thể gợi nên sự liên tưởng phong phú tới mức nào:
“Trận hoa tướng đã cờ xanh cuốn,
Cung nước tiên còn tán cú giương.”
(Khuyết danh, Sen già)
Cặp hình ảnh “tướng – cờ xanh cuốn”, “tiên – tán cú giương” dẫn dắt người đọc đến với ẩn dụ đầy bất ngờ về biểu tượng phồn thực và hoạt động tính giao. Hồ Tây bây giờ không phải được nhìn ngắm qua đôi mắt của các quan công khanh, sĩ đại phu mà đang hiển hiện đầy sức sống dưới nét vẽ đậm màu văn hóa dân gian của người bình dân, bước đầu góp phần thể hiện cá tính độc đáo và vẻ đẹp đa dạng của văn học Thăng Long.
Chỉ với những tác phẩm mang cảm hứng ca tụng trên, bức tranh Thăng Long xưa cũng đủ làm rung động người đọc nhiều thế hệ. Nhưng thú vị hơn là sang trọng và tươi vui không phải âm điệu duy nhất vang lên trong toàn bộ tác phẩm viết về Thăng Long thời thịnh Lê. Các thi nhân sau khi cởi bỏ chiếc áo con người chức phận, với tâm hồn mẫn cảm và đôi mắt thấu suốt cuộc đời, đã nhìn thấy ở Thăng Long một sắc thái khác đối nghịch với vẻ ngoài lộng lẫy. Họ lắng nghe được vọng ra từ cung vàng điện ngọc thâm nghiêm là tiếng khóc thương ai oán của những thân phận nhỏ bé trước quyền lực đế vương. Nối tiếp Khuê oán (Trần Nhân Tông), Đồ mi (Nguyễn Ức) từ giai đoạn Lý – Trần, văn chương thịnh Lê cũng dành những vần thơ đầy thương cảm cho người cung nữ:
“Chẳng thương cỏ áy nhụy non cùng,
Lạnh lẽo oan chi riết một đông.
Chiếu khách Tràng An ghê tựa nước,
Chăn người cung khuyết lạnh như đồng.” 
(Lê Thánh Tông, Đông)
Một Khuê oán của Trần Nhân Tông đã là hiện tượng lạ trong văn học trung đại, nay lại xuất hiện thêm thi phẩm của Lê Thánh Tông. Với bài thơ này, Lê Thánh Tông cũng như Trần Nhân Tông năm xưa, sẵn sàng trút bỏ cân đai mũ mão đế vương để cảm nhận như một thi nhân, và cao hơn, như một con người. Chẳng những vậy, theo dòng vận động chung của văn học, sự bức bối xuất phát từ khát khao yêu đương bị đè nén càng được bộc bạch trực tiếp hơn, day dứt hơn giai đoạn trước. Giấc mộng xuân cùng chung gối ngọc với quân vương trở đi trở lại trong thơ, quyện thành chuỗi đau đớn kéo dài vô tận:
“Thập nhị lâu đài, thập nhị thiên,
Trùng trùng thâm tỏa ngọc thuyền quyên.
Giác lai hận bất trường như mộng,
Phi đáo quân vương ngọc chẩm biên.”
(Thái Thuận, Hiệu Đường cung nhân từ)
(Có mười hai lâu đài là mười hai phương trời,
Những người đẹp bị cấm cung trong vách tường lớp lớp.
Khi tỉnh giấc giận không được cái triền miên trong giấc mộng,
Để có thể bay đến bên gối ngọc của quân vương.)
(Bài ca làm thay cung nữ đời Đường)
Bảo rằng làm thay cung nữ đời Đường, thực chất nhà thơ chỉ mượn ý để ám chỉ cung nữ dưới chế độ phong kiến của ta. “Thập nhị lâu đài”, từ góc nhìn cảm thương của Thái Thuận, gây nên liên tưởng về “mười hai bến nước”, hình ảnh gắn chặt với vận mệnh long đong của người phụ nữ trong xã hội cũ. Có thể nói, hiện thực nhiều bất công đã làm nảy sinh những vần thơ ai oán ấy song chính những vần thơ ai oán, “tiền thân” của Cung oán ngâm khúcChinh phụ ngâm… ở nửa sau thế kỷ XVIII, sau khi xuất hiện lại làm đẹp thêm cho bức tranh Thăng Long bởi giá trị nhân đạo, nhân văn sâu sắc của chúng.
Ở một phương diện khác, bức tranh kinh đô phồn hoa còn thấp thoáng nỗi buồn khởi nguồn từ tâm sự riêng tây của chính tác giả. Kinh đô là mảnh đất hội tụ nhân tài bốn phương, và cũng vì thế, những người con xa xứ thường mang nặng cảm giác cô đơn khi tự nhận mình chỉ là khách ở chốn đế đô. Thái Thuận, một nhà thơ gốc Kinh Bắc nhưng có nhiều năm làm quan ở Thăng Long, là một trường hợp như vậy. Hình ảnh kinh đô hiện lên trong thơ ông đẹp mềm mại, tinh tế với dương liễu, khói hoa, mưa muộn nhưng thường thấm sâu nỗi buồn khó diễn đạt bằng lời, bị bủa vây bởi niềm nhớ quê và sự ám ảnh về “mái tóc điểm sương”:
“Đảo y hà xứ chử đinh đông,
Khách xá thu thanh độc tọa trung.
Lương tứ mãn đình phong tại thụ,
Hàn quang nhập hộ nguyệt đương không.
Ô ô thành thượng minh hoa giốc,
Tức tức ly biên tố thảo trùng.
Bách cảm công tâm nan tự nhược,
Minh triêu chỉ khủng mấn thành ông.”
(Tràng An thu dạ)
(Tiếng đập vải thình thịch từ đâu dội tới,
Ngồi trong nhà lắng nghe tiếng thu đưa tới.
Gió lộng trong cây, hơi mát đầy sân,
Trăng treo giữa trời, ánh sáng lạnh soi vào cửa.
Trên thành u u tiếng tù và bằng sừng thổi,
Bên giậu rền rĩ tiếng sâu cỏ kêu.
Bao niềm thương cảm sôi động trong lòng, khó mà cản được,
Cho đến sáng mai, e rằng mái tóc đã điểm sương.)
(Đêm thu ở kinh đô)
Tuyệt nhiên không có tiếng đàn, tiếng sáo. Âm thanh mùa thu ở kinh thành thấm vào ánh trăng lạnh, đọng lại cùng nỗi buồn xa vắng của tiếng gió lộng trong cây, tiếng côn trùng rền rĩ, tiếng tù và u u thổi trên thành. Tiếng chày đập vải – âm thanh duy nhất gợi nhắc về sinh hoạt thường nhật của cuộc sống – lại vọng đến từ nơi xa nào không rõ, chỉ càng đè nặng thêm cảm giác “độc tọa trung”. Ở đây không hẳn là nỗi buồn thời thế loạn loạc như trong thơ ca các thế kỷ sau, khi mâu thuẫn của chế độ phong kiến càng lúc càng khó điều hòa. Bản thân Thái Thuận cũng không gọi rõ được tên trăm niềm cảm xúc trong lòng. Có lẽ đấy là nỗi buồn bất ngờ đến trong đêm thu – thời khắc dễ khiến con người cảm thấy cô quạnh, dễ làm dấy lên nỗi đau lữ thứ thường trực, khó nói nên lời. Hoặc rất có thể nỗi buồn ấy phần nào xuất phát từ sự băn khoăn, day dứt thường gặp ở nhà nho “Ở nơi đất khách lòng muốn về mà chưa về được” (Tư thân). Từng có lúc trong thơ Thái Thuận, trên cái nền là mùa xuân tươi đẹp ở đất Trường An lại xuất hiện hình ảnh một con người trầm tư, tự giằng co giữa ở và về:
“Tự tín tài phi thập bát tiên,
Tràng An không thử tuế hoa thiên.

Thượng uyển điên cuồng liên hí điệp,
Cố hương qui khứ phụ đề quyên.”
(Tràng An xuân mộ)
(Tự biết mình không có tài như mười tám vị tiên,
Ở giữa đất kinh đô mà để cho năm tháng thú vị trôi qua.

Nơi vườn vua thương cho cánh bướm cứ quay cuồng đùa giỡn,
Chốn quê nhà, phụ tiếng cuốc giục giã gọi về.”
(Chiều xuân ở Tràng An)
Kinh đô vốn là mảnh đất của vua, tượng trưng cho vương quyền của các triều đại. Và lẽ tất nhiên, ngay trong một triều đại cực thịnh như triều vua Lê Thánh Tông, nơi đó vẫn gắn chặt với sự đấu tranh khốc liệt của quan trường. Vì thế, trên trang thơ, kinh thành dần xuất hiện như một không gian đối lập với “quê nhà” – nơi mang lại cuộc sống nhàn tản, lánh xa công danh, phú quý cho các nho sĩ. Kinh đô cùng lúc mang hai vai trò: vừa là nơi để các bậc hiền tài khắp cả nước thực hiện khát vọng cống hiến, lại vừa là chốn “phù thế” trói buộc đôi cánh tự do của tâm hồn:
“Đại đình tằng đối tam thiên tự,
Phù thế hư kinh ngũ thập niên.
Bất thị vô tâm lai cấm tỉnh (sảnh),
Chỉ duyên đa bệnh ức viên điền.”
(Nguyễn Trực, Bính tuất ngẫu thành)
(Trước sân vua từng viết văn ứng đối ba nghìn chữ,
Cuộc đời đã từng trải năm mươi năm rồi.
Không phải vô tâm mà tới nơi làm việc cấm thành,
Chỉ vì lắm bệnh và nhớ cảnh vườn ruộng ở quê nhà.)
(Nhớ lại năm Bính tuất, ngẫu nhiên có thơ)
Có lẽ người đọc sẽ băn khoăn rằng những vần thơ trên có làm hình ảnh Thăng Long thời thịnh Lê giảm đi phần rực rỡ? Ở mức độ nhất định điều đó khó tránh khỏi. Tuy nhiên, từ nỗi buồn ấy, thế hệ sau có thể hiểu hơn về cốt cách của “sĩ phu Bắc Hà”. Họ đã làm sang trọng cho Thăng Long bằng những vần thơ ca tụng, tràn đầy niềm tự hào về đất nước và cũng chính họ, với trái tim nhân hậu, giàu tình cảm, càng khiến cho độc giả thêm rung động trước khí tiết thanh cao cùng vẻ đẹp thắm đượm chất nhân văn của con người đất kinh kỳ .
Chắc rằng nếu thiếu những gam màu đa dạng, thậm chí đối lập đến như vậy, sức thu hút của bức tranh Thăng Long thời thịnh Lê với người thưởng lãm hôm nay hẳn đã bị vơi đi ít nhiều.